Liên kết website
Lượt truy cập: 184055
Thực trạng và các dự báo về việc thu hút và sử dụng nguồn lao động ở tỉnh Bình Dương
Báo cáo tham luận của ông Phan Thành Sơn Giám đốc Sở Lao Động – Thương Binh & Xã hội tỉnh Bình Dương

I. Vai trò của các tổ chức quần chúng đặc biệt là công đoàn đối với việc thu hút và sử dụng nguồn lao động ở tỉnh Bình Dương

     1. Thực trạng đội ngũ công nhân, lao động tỉnh Bình Dương

     Trong các năm qua, nền kinh tế trên địa bàn tỉnh Bình Dương phát triển nhanh, toàn tỉnh có 28 khu công nghiệp (KCN), trong đó có 24 KCN đã đi vào hoạt động. Tính đến tháng 12/2010, tỉnh Bình Dương có 12.187 doanh nghiệp (DN), trong đó có 10.181 DN trong nước, 2.006 DN có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số lao động đang làm việc trong các DN là 717.850 người. Từ năm 2001-2010, hàng năm bình quân giải quyết việc làm từ 40.000 - 45.000 lao động. Lao động  nhập cư chiếm hơn 80% tổng số lao động trong các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

     Trình độ lao động hiện có: Cao đẳng, đại học: 5%; Trung cấp công nhân kỹ thuật: 11,6%; chưa qua đào tạo 83,4 % . Slao động chưa qua đào tạo nghề trước khi vào làm việc ở doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tự đào tạo để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh. Số lao động này phần lớn là những lao động nông thôn và học sinh mới tốt nghiệp phổ thông được các doanh nghiệp tuyển dụng vào làm các công việc mang tính thời vụ…Vì vậy, để xây dựng và phát triển đội ngũ công nhân trong những năm tới, cần tăng cường đầu tư cho công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, tay nghề cho công nhân lao động, giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông trước khi vào làm việc tại các doanh nghiệp, nhất là trong các khu công nghiệp, khu chế xuất.

     Ngoài loại hình đào tạo truyền thống tại các trường dạy nghề trong hệ thống, tỉnh Bình Dương đã tiếp tục phát triển các mô hình dạy nghề năng động, linh hoạt, gắn đào tạo với sử dụng theo nhu cầu của thị trường lao động để đáp ứng yêu cầu nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như dạy nghề tại doanh nghiệp, dạy nghề cho lao động nông thôn, dạy nghề cho bộ đội xuất ngũ.

     Hiện nay, các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn trên địa bàn tỉnh đều chủ động tổ chức dạy nghề, bổ túc nghề, bồi dưỡng kỹ năng nghề, chuyển giao công nghệ cho người lao động theo yêu cầu của doanh nghiệp. Lực lượng lao động qua đào tạo nhanh chóng tham gia, bổ sung vào đội ngũ công nhân kỹ thuật, đóng góp quan trọng vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hóa của tỉnh.

     Nhìn chung, công nhân qua đào tạo nghề từng bước đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, đã đảm nhận được một số vị trí quan trọng trong các ngành sản xuất, kể cả các ngành đòi hỏi kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến, phức tạp. Tuy nhiên, về kỹ năng nghề, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, sức khỏe và ngoại ngữ của người lao động còn hạn chế. Điểm tồn tại lớn nhất hiện nay trong công tác đào tạo nghề cho công nhân lao động Bình Dương là đào tạo nghề chưa đáp ứng yêu cầu giải quyết việc làm. 

2. Vai trò của các tổ chức quần chúng trong việc thu hút và sử dụng nguồn lao động ở Bình Dương

     Tính đến 31/12/2010, toàn tỉnh hiện có 2.235 với 373.371 ĐVCĐ/ 497.700 CNLĐ trong các đơn vị có tổ chức công đoàn. Trong đó, 1.556 công đoàn cơ sở ngoài nhà nước với 334.168 ĐVCĐ/425.350 CNLĐ.

     * Thuận lợi:

     Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ủy đảng, tạo điều kiện cho tổ chức công đoàn hoạt động ngày càng đi vào chiều sâu, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao hiểu biết cho người lao động về những vấn đề cần thiết liên quan tới quyền - nghĩa vụ về các tổ chức chính trị xã hội cho người lao động đạt nhiều kết quả. Công đoàn còn tham gia quản lý, chăm lo đời sống, công tác phối hợp giải quyết đơn thư, khiếu nại, tư vấn pháp luật, giải quyết việc làm, phổ biến chính sách, pháp luật được kịp thời, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân lao động góp phần ổn định tình hình quan hệ lao động trong các doanh nghiệp. Mặt khác, người lao động cũng tự rèn luyện, học tập để nâng cao trình độ.

     Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đánh giá của tổ chức công đoàn được tiến hành thường xuyên và có tác dụng tốt. Các chế độ khen thưởng, kỷ luật được chấp hành tốt theo chỉ đạo của Tỉnh uỷ, quy định của Nhà nước và của Tổng Liên đoàn, nhờ đó đã khuyến khích động viên kịp thời cán bộ công đoàn tận tâm với công việc được giao. Công tác kiểm tra của công đoàn các cấp được duy trì đều đặn, nhất là kiểm tra việc chấp hành điều lệ công đoàn giúp cho Ban thường vụ công đoàn các cấp chỉ đạo thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình quản lý.

     Các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là công đoàn cơ sở trong các doanh nghiệp đã quan tâm và có các biện pháp, hình thức linh hoạt để tuyên truyền phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm cho công nhân lao động hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình đối với doanh nghiệp. Trên cơ sở đó đã vận động được công nhân lao động thực hiện đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ quyền lợi chính đáng.

     * Những hạn chế:

     Công tác tuyên truyền của tổ chức công đoàn ở một số nơi chưa sâu, công đoàn cơ sở ở khu vực ngoài nhà nước chưa được tiến hành thường xuyên, hiệu quả thấp, nội dung tuyên truyền chưa đa dạng, hình thức chưa phù hợp với công nhân lao động

     Phong trào thi đua ở khu vực ngoài nhà nước chưa được triển khai rộng rãi, chế độ khen thưởng ở nhiều doanh nghiệp chưa cụ thể nên chưa khuyến khích được người lao động tham gia phong trào.

     Một bộ phận người lao động không thấy hết vị trí, vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội như vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và hoạt động của các đoàn thể chính trị, đặc biệt là tổ chức công đoàn. Người lao động chưa hiểu hết vai trò của tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ lợi ích, trong việc tham gia xây dựng chế độ, chính sách đối với công nhân; họ chưa tin tưởng vào hoạt động của công đoàn cơ sở, cho rằng công đoàn hoạt động thiếu hiệu quả, phụ thuộc vào chuyên môn.

     Tỷ lệ vận động thành lập và thu hút công nhân lao động tham gia sinh hoạt công đoàn còn thấp. Công đoàn cơ sở thuộc các doanh nghiệp ngoài nhà nước hoạt động chưa hiệu quả và đạt tỷ lệ tiêu chuẩn vững mạnh chưa cao. Kinh phí hoạt động của công đoàn cơ sở còn gặp nhiều khó khăn, phụ thuộc lớn vào điều kiện của doanh nghiệp, không có điều kiện để tổ chức các phong trào. Tính hấp dẫn, tính hiệu quả của các công tác vận động tuyên truyền, các hoạt động cụ thể chưa thiết thực, đạt hiệu quả chưa cao.

     Tuy nhiên, do giá cả thị trường không ổn định và tăng cao nên dù thu nhập của người lao động tăng nhưng đồng lương thực tế không đủ trang trải cho cuộc sống hàng ngày. Người lao động nhập cư còn phải trả tiền nhà trọ, điện nước với giá đắt đỏ, chấp nhận sống trong môi trường, diện tích chật hẹp không có các tiện nghi phục vụ cho sinh hoạt văn hóa tinh thần tại chỗ.

     Những hạn chế trên trước hết là do trình độ học vấn của người lao động còn thấp, phần lớn chưa được đào tạo qua các trường lớp cơ bản;  Chưa phát huy tốt vai trò của tổ chức công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp trong việc tổ chức cho công nhân tham gia các hoạt động tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng.

3. Một số khó khăn

     Nguồn lao động của tỉnh hàng năm không đáp ứng đủ nhu cầu của doanh nghiệp và ngày càng khan hiếm, phải thu hút lao động từ các tỉnh; lao động chưa qua đào tạo chiếm tỉ lệ cao, thiếu chuyên môn nghiệp vụ, thiếu kỹ năng, kinh nghiệm và không đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp.

     Về dạy nghề - tạo việc làm cho lao động tuy có chuyển biến tích cực nhưng hiệu quả chưa cao, tỉnh đã có chính sách hỗ trợ mỗi ngày 10.000đ/lao động trong suốt quá trình theo học các lớp dạy nghề. Tuy nhiên, do thời gian học nghề dài nên người lao động nôn nóng đến việc mưu sinh. Mặt khác, chương trình đào tạo nghề có yêu cầu học văn hóa nên một số học viên học không nổi và bỏ học giữa chừng.

     Cùng với thành tựu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đời sống vật chất của công nhân lao động đang được cải thiện, song vẫn còn nhiều khó khăn. Do thu nhập của nhiều lao động còn thấp, không đủ đáp ứng cho các hoạt động đời sống của người lao động. Vì vậy, nhiều gia đình công nhân còn chật vật, vấn đề nhà ở còn nan giải. Đây là thực trạng khách quan, phản ánh khá trung thực tình hình đời sống vật chất của công nhân, lao động trong các doanh nghiệp ở Bình Dương.

4. Mục tiêu, giải pháp

     Đa dạng các hình thức dạy nghề, những ngành kinh tế mũi nhọn, đặc biệt là ngành nghề truyền thống của địa phương, tạo điều kiện cho người lao động, thanh niên, nông dân. Xây dựng một số cơ sở dạy nghề chất lượng cao, một số trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến trong khu vực và trên thế giới.

     Đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề; khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân đầu tư cho dạy nghề, phát triển các cơ sở dạy nghề tư thục và cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư của nước ngoài; mở rộng hội nhập quốc tế về dạy nghề.

     Hoàn thiện cơ chế, chính sách theo hướng xã hội hoá công tác đào tạo nghề, tỉnh có chính sách ưu đãi đầu tư đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt là lao động trong các vùng qui hoạch khu công nghiệp, khu đô thị, lao động ngoài tỉnh, tạo điều kiện cho người lao động chuyển đổi ngành nghề, và thu hút lao động từ nơi khác đến.

     Mở rộng diện bán công, dân lập, các trường dạy nghề và đào tạo công nhân kỹ thuật, tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị, phương tiện dạy học hiện đại cho các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế xã hội, cán bộ quản lý điều hành cơ quan tỉnh, huyện.

     Khuyến khích các thành phần kinh tế, mở rộng ngành nghề, thực hiện chính sách ưu tiên đối với các ngành nghề sử dụng nhiều lao động kỹ thuật và tự đào tạo nâng cao trình độ. Tăng cường hệ thống dịch vụ việc làm, dạy nghề ở cơ sở.

     Nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức công đoàn cơ sở của các doanh nghiệp như: thường xuyên chăm lo việc giáo dục chính trị, tư tưởng cho đội ngũ công nhân lao động, giáo dục cho người lao động về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong thời kỳ mới. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, giáo dục cho người lao động những nội dung cơ bản của pháp luật lao động, nhất là những chính sách, pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của công nhân lao động. Bên cạnh đó, cần khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức tự hào dân tộc, tinh thần tự chủ, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh.

     Xây dựng và phát triển các tổ chức chính trị-xã hội trong doanh nghiệp, cần tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, linh hoạt phối hợp hoạt động trong mọi mặt công tác, nhất là công tác tuyên truyền giáo dục người lao động phải phù hợp với từng đối tượng và từng loại hình doanh nghiệp.

II. Cơ sở lý luận và thực tiến về phát triển thị trường sức lao động

     * Lực lượng lao động (Labour force)

     Theo ILO, “Lực lương lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp”

     Còn theo R. Nonan, “Lực lượng lao động gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người đang tìm việc.

     Nói khác đi, Lực lượng lao động là một nhóm dân số hoạt động kinh tế thường xuyên của một quốc gia.

     * Sức lao động

     Sức lao động là một khái niệm trọng yếu trong kinh tế chính trị Mác-xít. Mác định nghĩa sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó. Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất và là lực lượng sản xuất sáng tạo chủ yếu của xã hội. Nhưng sức lao động mới chỉ là khả năng lao động, còn lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực.

     * Thị trường sức lao động

     Trong cơ chế thị trường với sự hoạt động của thị trường sức lao động (còn gọi là thị trường lao động), sức lao động trở thành hàng hóa, loại hàng hóa đặc biệt. Giá cả sức lao động chính là tiền lương (tiền công).

     Việt Nam đang trên bước đường hội nhập kinh tế quốc tế, hiện đại hoá nền sản xuất và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong bối cảnh đó, nhiều thị trường đã hình thành, ngày càng có những biến chuyển tích cực như: thị trường hàng tiêu dùng, hàng xuất nhập khẩu, hàng nông lâm thủy sản. Nhưng một trong những thị trường có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng đó chính là thị trường sức lao động- thị trường sức lao động ở nước ta hình thành và phát triển khá chậm chạp.

     Thị trường sức lao động là thị trường mà trong đó các dịch vụ lao động được mua bán thông qua một quá trình để xác định số lượng lao động được sử dụng cũng như mức tiền công và tiền lương. Thị trường lao động là một trong những loại thị trường cơ bản và có một vị trí đặc biệt trong hệ thống các thị trường của nền kinh tế.

     Quá trình hình thành và phát triển cũng như sự vận động của thị trường lao động có những đặc điểm hết sức riêng biệt. Thị trường lao động cũng như các loại thị trường khác tuân thủ theo những quy luật của thị trường như quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh. Điểm khác biệt lớn nhất ở đây là do tính chất đặc biệt của hàng hoá sức lao động.

     Trong xu thế hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi thị trường lao động ở Việt Nam phát triển linh hoạt để hỗ trợ tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Thế nhưng, do mới hình thành và phát triển chưa đồng bộ, nên thị trường lao động Việt Nam đang bộc lộ nhiều yếu điểm lẫn mâu thuẫn, trong đó nghiêm trọng nhất là mất cân bằng giữa cung và cầu, năng suất lao động thấp.

     Trong khi chúng ta dư thừa sức lao động ở nông thôn thì ở lĩnh vực phát triển công nghiệp, các ngành dịch vụ trung cao cấp lại thiếu hụt lao động trầm trọng. Phân tích về thực trạng thừa thiếu việc làm, tổng việc làm của nền kinh tế tăng nhưng chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, những năm vừa qua hệ số co giãn việc làm ở nước ta chỉ đạt mức trung bình 0,28% (tức là khi GDP tăng thêm 1% thì việc làm chỉ tăng 0,28%), so với các nước trong khu vực hệ số co giãn việc làm còn thấp. Điều này có nghĩa là tăng trưởng chưa tạo ra nhiều việc làm, đem lại lợi ích cho người lao động.

     Hiện cả nước vẫn còn trên 50% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn là một nước kém phát triển và tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn vẫn trầm trọng (chiếm tỷ trọng gần 97% trong tổng số lao động thiếu việc làm chung).

     Mặc dù, sự chuyển dịch cơ cấu lao động đã có tín hiệu tích cực nhưng chưa theo kịp tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và việc phân phối, sử dụng lao động trong các khu vực kinh tế mất cân đối. Cụ thể, ở khu vực ngoài nhà nước sử dụng (trên 87%) lao động xã hội, nhưng đại bộ phận làm việc ở hộ cá thể, sản xuất nhỏ phân tán, phi chính thức với trình độ công nghệ, phương thức sản xuất lạc hậu, năng suất lao động thấp.

     Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ việc làm không bền vững chiếm tỷ lệ 2/3 hoặc 3/4. Tình trạng việc làm khu vực phi chính thức (chiếm tỷ lệ 70% trong tổng số việc làm) nhưng không được hưởng chính sách an sinh xã hội, luôn đối mặt với việc làm bấp bênh, thu nhập thấp, ít được bảo vệ. Đó là cái vòng luẩn quẩn trong bức tranh chung của thị trường lao động Việt Nam: chất lượng lao động thấp dẫn đến lương thấp, năng suất lao động thấp và cuối cùng cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế.

     Kết quả điều tra cho thấy lao động Việt Nam hiện nay có kỹ năng, tay nghề thấp do chất lượng đào tạo, cơ cấu ngành, nghề đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. Tỷ lệ dạy nghề ngắn hạn chiếm khoảng 80% nên thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật cao, lao động dịch vụ cao cấp (tài chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng….), nhiều nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài, xuất khẩu lao động đa phần là lao động trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hoặc chỉ qua giáo dục định hướng.

     Thể lực của người lao động yếu, yêu cầu lao động hoạt động phải sử dụng các máy móc, thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế. Kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp cơ bản chưa được hình thành. Do vậy, khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở thị trường yêu cầu lao động có trình độ cao như các khu công nghiệp, khu chế xuất và thị trường lao động nước ngoài.

III. Thực trạng phát triển thị trường sức lao động của tỉnh Bình Dương trong những năm vừa qua và hiện nay

     Bình Dương là tỉnh nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam với diện tích tự nhiên 2.695 km2, Cơ cấu hành chính của tỉnh hiện nay có 03 thị xã (Thuận An , Dĩ An và Thủ Dầu Một hiện là trung tâm hành chính - kinh tế - văn hóa của tỉnh, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km) và 04 huyện: Bến Cát, Dầu Tiếng, Tân Uyên, Phú Giáo với 91 xã, phường, thị trấn. Cơ cấu kinh tế: công nghiệp 63%, dịch vụ 32,6% và nông nghiệp 4,4%. Kết cấu hạ tầng được đầu tư phát triển đồng bộ tạo môi trường đầu tư phát triển kinh tế từ đó thu hút nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đến đầu tư tại tỉnh.

     Tính đến nay, tỉnh Bình Dương có 28 khu công nghiệp được thành lập với diện tích 8.979 ha, trong đó 24 khu đã chính thức đi vào hoạt động với 12.187 doanh nghiệp, trong đó có 10.181 doanh nghiệp trong nước và 2.006 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tạo việc làm cho 717.850 lao động trong các doanh nghiệp, trong đó 84% là lao động ngoài tỉnh. Bình Dương hàng năm có hơn 400 – 500 dự án đầu tư mới với nhu cầu tuyển dụng của Doanh nghiệp từ 50.000 đến 65.000 lao động. Nhiều Doanh nghiệp mở rộng xây mới, Doanh nghiệp mới đăng ký kinh doanh, … trong khi đó lực lượng lao động của tỉnh hàng năm bước vào tuổi lao động khoảng 15.000- 20.000 người. Vì vậy, việc thu hút thêm một lượng lớn lao động là hết sức cần thiết. Các cơ sở đào tạo nghề được củng cố bước đầu về số lượng cũng như chất lượng cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, tuy nhiên ngành nghề đào tạo vẫn còn bất cập, chưa phù hợp với yêu cầu của nhà tuyển dụng.Tình trạng khan hiếm lao động xảy ra ở hầu hết các ngành nghề tại Bình Dương là rất lớn.

     * Quá trình thu hút lao động gặp những khó khăn vướng mắc với những lý do cơ bản sau:

     Hiện nay nhiều doanh nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu về nhà ở, nhà giữ trẻ…cho công nhân điều này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình ổn định của người lao động. Một số Doanh nghiệp đã có mức hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động. Tuy nhiên, giá cả hiện nay không ổn định: giá thuê nhà, và giá tiêu dùng thường xuyên tăng nhưng mức thu nhập  của người lao động lại không thay đổi, nên không theo kịp được với thị trường.  Một số nơi môi trường và an ninh ở các khu nhà trọ chưa bảo đảm nên người lao động không yên tâm để làm việc họ phải chuyển đi nơi khác, dẫn đến Doanh nghiệp mất người lao động.

     Đa số người lao động đến Bình Dương là ở nông thôn quen với tập tính tự do trong lao động, chưa có ý thức kỷ luật lao động trong môi trường làm việc công nghiệp nên hiệu quả công việc chưa cao, dẫn tới thu nhập thấp.

     Hiện nay mức lương của một sô công ty, doanh nghiệp còn thấp, người lao động mới làm việc tại công ty thời gian đầu lương chỉ đủ chi phí trang trải cuộc sống, không có tích lủy nên không thu hút được người lao động. Các công ty chưa có chính sách giữ người lao động nên thường xảy ra tình trạng lao động đổi chỗ làm việc từ công ty này sang công ty khác, gây tình trạng khan hiếm lao động ảo.

IV. Giải pháp phát triển thị trường sức lao động tỉnh Bình Dương từ nay đến năm 2020

      Thứ nhất: Phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao trình độ dân trí và chuyên môn kỹ thuật cho người lao động. Đây là giải pháp cơ bản, lâu dài, nhằm phát triển nguồn nhân lực tại Bình Dương đáp ứng cung-cầu lao động; quy hoạch, kế hoạch và tiêu chuẩn hóa hệ thống trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề trong tỉnh, đầu tư tập trung vào hệ thống dạy nghề kỹ thuật thực hành, xây dựng hệ thống trường dạy nghề; đào tạo gắn với cầu lao động.

     Thứ hai: Tăng cường hơn nữa về công tác liên kết lao động với các tỉnh, phấn đấu đạt hiệu quả liên kết lao động về chất lượng cũng như số lượng với hầu hết các tỉnh thành trong cả nước.

     Thứ ba: Triển khai hệ thống Thông tin thị trường lao động, gắn liên kết giới thiệu việc làm cho người lao động tại trụ sở cơ quan với việc tuyên truyền các cơ hội việc làm qua website đồng thời liên kết thông tin đến các Trung tâm GTVL tỉnh bạn; cũng như cập nhật liên kết với các trang mạng việc làm cung cấp thông tin mới nhất và đầy đủ nhất các cơ hội làm việc trên toàn quốc…   

     Tổ chức các Phiên giao dịch việc làm định kỳ hàng tháng giúp cho người lao động và nhà tuyển dụng có thể gặp gỡ trực tiếp giúp cho đội ngũ cán bộ làm công tác tư vấn, giới thiệu việc làm, thông tin thị trường lao động nâng cao kinh nghiệm chuyên môn trong thực tiễn. Đồng thời giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước nắm bắt thông tin về lao động, việc làm, giáo dục đào tạo trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho tỉnh nhà. Từ đó đúc kết lại định hướng phát triển thị trường lao động đưa vào vận hành ổn định, nâng cao hiệu quả và phát triển bền vững. Sàn giao dịch việc làm đến với mọi tầng lớp trong xã hội, từ đó tác động đến nhận thức về vấn đề lao động - việc làm và đáp ứng được mong muốn của họ.

     Tăng cường hơn nữa sự hỗ trợ trực tiếp từ các đài phát thanh và truyền hình địa phương về các chính sách lao động, GTVL,… rộng rãi trong nhân dân lao động. Đặc biệt là các sinh viên, học viên tại các trường nghề và các tầng lớp thanh niên trong độ tuổi lao động.

     Thứ tư : Khuyến khích Doanh nghiệp tham dự các phiên giao dịch việc làm các tỉnh tổ chức. Thực tế hiện nay nhiều Doanh nghiệp kêu thiếu lao động tuy nhiên khi mời tham dự các phiên giao dịch việc làm tại các địa phương tổ chức thì Doanh nghiệp không tham dự hoặc ủy quyền cho Trung tâm giới thiệu việc làm Bình Dương, điều này dẫn đến người lao động không thực sự nắm bắt cũng như hiểu được công ty mà mình đăng ký làm việc. Người lao động chỉ thụ động tin tưởng vào Trung tâm giới thiệu việc làm các tỉnh đưa mình tới Doanh nghiệp làm việc nhưng thực sự chưa hiểu được nhiều về Doanh nghiệp mà mình sắp làm việc.

     Khuyến khích Doanh nghiệp tuyển dụng lao động cân bằng về giới. Hiện nay tỷ lệ tuyển chọn lao động nữ tăng cao trong khi đó ít ngành tuyển chọn lao động nam. Điều này dẫn đến thực tế hiện nay đang dư thừa lao động nam, thiếu lao động nữ. Đặc biệt ưu đãi các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động trong và ngoài nước tự tổ chức đào tạo nghề tại chỗ cho lao động.

     Thứ năm: Tăng cường kết hợp giữa các trường dạy nghề địa phương, Trung tâm giới thiệu việc làm các tỉnh, Trung tâm giới thiệu việc làm Bình Dương và Doanh nghiệp. Hiện nay nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông tăng cao tuy nhiên nhu cầu về lao động có kỹ thuật, lao động qua đào tạo nghề cũng rất nhiều. Hiện nay công tác này chưa được chú ý vì vậy cần tổ chức Sàn giao dịch việc làm giữa các cơ sở đào tạo nghề, các trường Trung cấp, Cao đẳng, Đại học tuyển người mới ra trường vào làm tại Doanh nghiệp. Thông tin phản hồi từ phía Doanh nghiệp về nhu cầu tuyển dụng cùng với các yêu cầu kỹ năng, trình độ chuyên môn mà các Học viên, Sinh viên mới ra trường còn thiếu. Để phản hồi lại cho các cơ sở đào tạo, các trường để tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học – phù hợp nhu cầu Doanh nghiệp cũng chính là mục tiêu của sự nghiệp Lao động và việc làm hiện nay.

     Tổ chức các dịch vụ cung cấp thông tin về cơ hội đào tạo và thị trường nghề nghiệp cho lao động ngoại tỉnh, lao động nông thôn; cấp chứng chỉ nghề gắn với thẻ lao động cho người lao động. Xây dựng quỹ vay vốn để giúp người lao động học nghề. Cấp học bổng học nghề cho các đối tượng chính sách, nông dân ở vùng phải thu hồi đất, cho người nghèo không có đất.

     Thứ sáu: Cần có những chính sách thích hợp như các vấn đề: về nhà trọ, giá điện nước sinh hoạt, an ninh trật tự, thường xuyên kiểm tra chất lượng bữa ăn và vệ sinh an toàn thực phẩm tại các công ty./.

Cùng danh mục

Các dự án nổi bật
Đơn vị thành viên


Hotline
+8408 38 724 054
+84 90 300 4236
Hỗ trợ Online
LIÊN HIỆP KHOA HỌC KINH TẾ - KỸ THUẬT - MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM

Trụ sở chính: Địa chỉ: Quốc lộ 13, Đông Nhì, Phường Lái Thiêu, Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương
Điện thoại: 0650 757 910  - Fax: 0650 759 255

Văn phòng đại diện: Địa chỉ: 107/9C, Huỳnh Tấn Phát, KP2, P. Tân Thuận Tây, Q.7, TP.HCM
Điện thoại: 08 38 724 054  - Fax: 08 62 621 224 - Di động: 090 300 4236

Website
: www.setesu.vn
Bản quyền 2010 © Liên hiệp Khoa học Kinh tế - Kỹ thuật - Môi trường Miền Nam (SETESU)