|
Bài báo cáo tham luận của
TS. Nguyễn Công Hưng - Trường ĐH Tôn Đức Thắng
Phát triển thị trường sức lao
động ở tỉnh Bình Dương, là một đề tài có ý nghĩa hết sức cần thiết và cấp bách,
không chỉ cho riêng tỉnh Bình Dương mà còn là cơ sở lý luận và thực tiễn cho
quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
Khẳng định sự cần thiết khách
quan phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới mô hình
tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; Văn kiện kiện đại hội Đảng lần thứ XI, cho
rằng: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo
đảm ổn định kinh tế vĩ mô; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực.”
Nguồn lực quan trọng có ý nghĩa quyết định sự phát triển của nền sản xuất xã
hội là sức lao động. Để khơi dậy nguồn lực sức lao động nhân tố quan trọng này,
điều tất yếu phải phát triển hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động.
Văn kiện Đại hội Đảng XI khẳng định: “Tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt
các loại thị trường ….Phát triển thị trường lao động, khuyến khích các hình
thức giao dịch việc làm”.
Phát triển đồng bộ các loại
thị trường trong đó thị trường sức lao động là một trong những thị trường không
thể thiếu trong kết cấu các loại thị trường, bởi đây là thị trường quyết định
sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Hơn nữa thị trường sức lao động có những
đặc trưng riêng, có hình thức biểu hiện riêng, có nhân tố cốt lõi cấu thành thị
trường riêng, đó là - sức lao động; nó tồn tại trong cơ thể một con người đang
sống. Chính vì lẽ đó việc phân tích làm sáng tỏ hàng hoá sức lao động và thị
trường sức lao động; từ đó làm cơ sở đề ra giải pháp phát triển thị trường sức
lao động là những căn cứ cho việc hoạch định các chính sách kinh tế xã hội của
tỉnh.
1.Sức lao động và hàng hóa sức lao động:
Sức lao động và hàng hóa sức
lao động là nhân tố cốt lõi nhân tố cơ bản cấu thành và quyết định của thị
trường sức lao động. Trước hết, bàn về sức lao động, chúng ta thường cho rằng “sức
lao động là toàn bộ thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể một con người
đang sống”. Tuy nhiên, theo chúng tôi hiểu như vậy là vẫn đơn giản, bởi nhân tố
cấu thành sức lao động không chỉ đơn thuần là thể chất và tinh thần, đây mới
chỉ là điều kiện, cái quan trọng quyết định sức lao động, với sự phát triển như
vũ bão của khoa học công nghệ trên thế giới, đó là trình độ, kỹ năng để lao
động. Do đó để có được một sức lao động để lao động phải mất một thời gian
tương đối dài ít nhất là từ 18 đến 25 năm.
Hình thành hàng hóa sức lao
động trên thị trường sức lao động không chỉ mất một thời gian dài để có được
người lao động, mà là một quá trình diễn ra rất khó khăn; bởi lẽ để có được một
con người có đầy đủ thể chất và tinh thần để tiến hành lao động là một quá
trình đóng góp rất lớn cả gia đình và xã hội. Trước hết về gia đình là hình
thành nuôi nấng và chăm sóc từ trẻ vị thành niên đến lúc trưởng thành - một chi
phí rất lớn; đề cập này cho thấy sự quan tâm của gia đình, chi phí của gia đình
là một “gánh nặng” để có được người lao động, có được thể chất và sức khỏe thì
khi bán sức lao động, không thể không tính toán đến chi phí này. Hơn thế chi
phí ở phạm vi gia đình còn bao gồm cả chi phí học tập của người lao động từ
kiến thức Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Trung cấp nghề, Cao
đẳng, Đại học và Trên đại học…
Chính vì lẽ đó khi bàn về giá
trị hay giá cả sức lao động, Karl Marx cho rằng tiền lương của người công nhân
phải bao gồm cả ba bộ phận: Chi phí nuôi sống người công nhân; chi phí đào tạo
người công nhân và chi phí nuôi sống cả gia đình người công nhân. Đây là một
trong những nhân tố cốt lõi cấu thành chi phí để hình thành sức lao động trên
thị trường sức lao động. Hơn thế, trong thực tiễn có thể bỏ ra một chi phí như
vậy nhưng chưa hẳn đã có được một sức lao động mong muốn; chẳng hạn có thể chất
sức khỏe, nhưng không có được một thể chất về trình độ ngành nghề hoặc có được
trình độ ngành nghề nhưng sức khỏe lại không cho phép việc sử dụng sức lao động
là lao động.
Tôi rất tâm đắc với câu “Danh
ngôn” trên báo An ninh thế giới cuối tháng, tháng 4 -2011 “Đồ vật càng cũ càng
rẻ, trí tuệ càng già càng đắt”; “Nửa đời đầu để tự hỏi mình có năng lực gì, nửa
đời sau để tự hỏi, có ai cần đến năng lực ấy hay không?”. Nêu vấn đề này cho
thấy một quá trình dài tự mình đào tạo được một sức lao động, nhưng việc bán
sức lao động và sử dụng sức lao động là một việc rất đáng quan tâm đối với hàng
hoá sức lao động.
Một đặc điểm khác của hàng
hóa sức lao động khác với các hàng hóa thông thường là đối với hàng hóa thông
thường khi sử dụng giá trị sử dụng chuyển từ dạng này sang dạng khác; nhưng đối
với hàng hoá sức lao động khi sử dụng là lao động. Vì vậy, nó không diễn ra tức
thời sau khi mua là sử dụng, mà đó là quá trình lao động, quá trình này có thể
diễn ra một thời gian dài, thậm chí hàng hóa này có thể sử dụng hàng trăm năm.
Có thể nói vui rằng, đây là một “tài sản cố định xài xả láng, không phải khấu
hao cho đến khi không xài được nữa!”. Do đó việc bán loại hàng hóa này, có thể
bán trong thời gian ngắn, có thể bán trong thời gian dài, tùy theo người bán,
tùy theo người mua, tùy theo chủ sử dụng của nó.
Hàng hóa sức lao động cũng
tùy theo tính chất của nó, có những hàng hóa sức lao động được sử dụng tùy theo
thời vụ nhất là đối với loại hàng hóa mà trình độ sức lao động là phổ thông,
lao động giản đơn. Nhưng có những loại hàng hóa sức lao động được đào tạo một
cách bài bản có trình độ sức lao động cao, có thể sử dụng lâu dài mà dân gian
thường nói “gừng càng già càng cay”. Đối với hàng hóa sức lao động nếu quan hệ
mua bán diễn ra bình đẳng và sử dụng đúng với sức lao động thì hiệu quả kinh tế
và hiệu quả xã hội mang lại rất cao đối với doanh nghiệp và đối với xã hội.
Những đề cập trên đây cho
thấy sức lao động trở thành hàng hoá có thể bán trên thị trường; nhưng nó khác
hàng hóa thông thường không phải chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, một chu
kỳ sản xuất, tính bằng giờ hay ngày, tháng mà phải tính bằng hàng chục năm;
thậm chí chi phí cho 30, 40 năm mà vẫn chưa có được một sức lao động có trình
độ cao.
Một vấn đề ít người đề cập
khi nói đến thị trường sức lao động, đó là tiền công danh nghĩa, tiền công thực
tế và mối quan hệ giữa chúng. Tiền công danh nghĩa là số tiền người lao động
nhận được do bán sức lao đông của mình. Tiền công thực tế lại là số lượng hàng
hóa và dịch vụ mua được từ tiền công danh nghĩa. Mối quan hệ giữa hai phạm trù
trong điều kiện bình thường và trong điều kiện lạm phát ảnh hưởng như thế nào
đối với thị trường sức lao động thiết nghĩ cũng cần được nghiên cứu đầy đủ, kỹ
lưỡng.
2.Thị trường sức lao động
Thị trường theo cách hiểu
thông thường là nơi trao đổi mua bán hàng hóa; theo nghĩa đó thị trường sức lao
động cũng là nơi trao đổi mua bán hàng hoá sức lao động. Tuy nhiên, từ đặc
trưng của hàng hoá sức lao động mà thị trường sức lao động cũng có những đặc
trưng riêng của nó.
Trước hết, thị trường là nơi
trao đổi mua bán hàng hóa. Thị trường sức lao động cũng là nơi mua, bán hàng
hoá sức lao động. Trên thị trường có chủng hoại hàng hóa đa dạng thì thị trường
sức lao động cũng có chủng loại hàng hoá đa dạng. Điều đó được thể hiện ở chỗ
sức lao động được bán trên thị trường cũng hết sức đa dạng phong phú, nhiều
chủng loại khác nhau, chẳng hạn về thể chất sức khỏe, trình độ chuyên môn,
ngành nghề, tính chất công việc, kinh nghiệm kỹ năng...Chẳng hạn khi thông báo
tuyển dụng của các doanh nghiệp yêu cầu tính chất trình độ của từng loại ngành
nghề, thậm chí có cơ quan doanh nghiệp còn yêu cầu cụ thể ngành nghề này phải
được đào tạo ở hệ nào, bậc nào, ngành nào…
Địa điểm hình thành thị trường sức lao động cũng khác với
thị trường hàng hóa thông thường; nó được tiến hành ở trung tâm giới thiệu việc
làm, sàn giao dịch việc làm…các trung tâm này được hình thành ở nhiều nơi gắn
với các quận, huyện, thị xã, gắn với các doanh nghiệp. Có nhiều loại thị trường
khác nhau, có thị trường chỉ chuyên về một loại hàng hoá sức lao động như chỉ
tuyển công nhân cơ khí, tuyển lao động kế toán, tuyển tiếp viên hàng không,
công nhân dệt, công nhân may, ngành da giày…Đối với loại thị trường này phải có
sức lao động mới có thể mang bán được, hơn thế việc mua bán này chỉ diễn ra
trong những điều kiện cụ thể nhất định. Bởi các doanh nghiệp sau khi đã mua
được sức lao động, hoạt động thị trường đó chấm dứt. Có thị trường diễn ra việc
mua bán hàng loạt, nhưng cũng có thị trường chỉ diễn ra mà nguồn cung rất lớn,
nhưng cầu lại rất ít và ngược lại. Phân tích thị trường sức lao động cho thấy
cần phải có dự báo cho nguồn nhân lực trong quá trình đào tạo để đáp ứng yêu
cầu phát triển ngành nghề, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo yêu cầu phát triển
kinh tế của tỉnh Bình Dương.
Một đặc điểm khác của thị trường sức lao động của một số
trung tâm lớn ở các thành phố và một số trường đại học thường làm đó là “ Ngày
hội việc làm”. Đây cũng là một hình thức của thị trường sức lao động, tuy nhiên
loại thị trường này bên cạnh những ưu điểm vẫn còn tồn tại một số nhược điểm mà
chúng ta cần suy nghĩ?
Việc mua bán sức lao động với kết quả chính là giải quyết
việc làm. Việc làm là sự kết hợp giữa
hai yếu tố tư liệu sản xuất và sức lao động. Sức lao động được đào tạo ở một
trường đại học, song yếu tố tư liệu sản xuất cần thiết cho sự kết hợp sức lao động
rất ít. Một số gian hàng của các doanh nghiệp giới thiệu tại ngày hội việc làm
là không nhiều, việc tuyển chọn sức lao động thông qua ngày hội việc làm là rất
ít, thậm chí có doanh nghiệp chẳng tuyển được ai, mà sinh viên đến và đăng ký
khá nhiều, theo chúng tôi là một lãng phí rất lớn.
Sự mất cân đối trong thị trường sức lao động là vấn đề
đặt ra mà các cơ quan hữu quan khi nghiên cứu thị trường sức lao động cần quan
tâm. Trong những năm vừa qua việc hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất,
đòi hỏi cần có hàng ngàn công nhân, song rất nhiều doanh nghiệp đã không tuyển
được phải đóng của, nghĩa là khi phát triển ngành, nghề, chúng ta chưa có được
một thị trường sức lao động tương ứng. Lý thuyết việc làm của nhà kinh tế học
John Maynard Keynes đã phân tích rất kỹ ở phần “Đầu tư mô hình số nhân” về việc
làm song đáng tiếc chúng ta chưa nghiên cứu kỹ vấn đề này.
3. Phát triển thị trường sức lao động ở tỉnh
Bình Dương.
Bình Dương là tỉnh nâng động phát triển nhanh về mọi mặt, thể hiện ở tốc độ tăng trưởng hàng năm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút đầu tư ... Sự phát triển nhanh chóng ấy có sự đóng góp to lớn của thị trường sức lao động của tỉnh.
Với mục tiêu chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, năm
2010, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chiếm 45%; dịch vụ chiếm 35%, nông, lâm,
ngư nghiệp chiếm 20% đến năm 2020 các con số tương ứng là 45%, 45%, 10%. Đăc
biệt, coi trọng phát triển nghành công nghiệp CNTT với mục tiêu đưa Bình Dương
vào tốp 5 của cả nước. Đồng thời với sự hình thành thành phố mới Bình dương
trong thời gian tới đặt ra hàng loạt vấn đề cần nghiên cứu và giải quyết, nhất
là những vấn đề liên quan đến ổn định và phát triển thị trường sức lao động cả
vê số lượng và chất lượng.
Về nguồn lao động
Như mọi người đều biết, số
lượng lao động phụ thuộc vào một số nhân tố như tốc độ tăng dân số tự nhiên,
lượng lao động nông nghiệp dôi ra do quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động nông nhàn và tăng dân số cơ học. Thời gian
qua cho thấy nguồn lao động của Bình Dương chủ yếu là do từ các tỉnh khác
chuyển đến thông qua việc mở rộng liên kết với hơn 30 tỉnh trong cả nước. Trong
tương lai, mở rộng liên kết vẫn là xu hướng nhằm đảm bảo số lượng lao động cho
tỉnh nhà. Nhưng quá trình liên kết ấy cũng bộc lộ không ít khó khăn, vướng mắc
mà nếu không giải quyết sẽ làm cho thị trường sức lao động của tỉnh không ổn
định.
Về chất lượng nguồn lao động
Khi nói đến chất lượng nguồn
lao động cũng tức là nói đến đào tạo nguồn lao động. Đây là vấn đề lớn liên
quan đến nhiều nghành, nhiều lĩnh vực. Trong khuôn khổ một bài tham luận, không
thể nêu hết được. Ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh đến đặc điểm là Bình Dương nằm
sát với thành phố Hồ Chí Minh, một trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ và
trung tâm đào tạo. Điều này vừa là thuận lợi trong việc mở rộng liên kết nhất
là liên kết đào tạo lực lượng lao động trình độ cao, đáp ứng nhu cầu lao động
theo hướng phát triển đã được tỉnh xác định cho đến năm 2020. Đồng thời thuận
lợi ấy cũng đặt ra thách thức cạnh tranh trên thị trường sức lao động.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận
và thực tiễn, để phát triển thị trường sức lao động ở Bình Dương đến năm 2020,
chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp sau đây:
Một là, phát
triển hàng hóa sức lao động
Đây là nhân tố quan trọng,
nhân tố cốt lõi đầu tiên của thị trường sức lao động; bởi nếu không có hàng hóa
sức lao động sẽ không có thị trường sức lao động. Thị trường sức lao động phát
triển đến đâu là tùy thuộc vào hàng hóa sức lao động phát triển đến đó. Do đó,
để phát triển thị trường sức lao động đến năm 2020 ở tỉnh Bình Dương, chúng ta
phải chuẩn bị hàng hóa sức lao động ngay từ bây giờ.
Hàng hóa sức lao động của
tỉnh đến năm 2020, hình thành và phát triển thị trường sức lao động dựa trên
hai cơ sở đó là: dân số tăng tự nhiên và dân số tăng cơ học. Từ hai nguồn tăng
của loại hàng hóa sức lao động này mà tỉnh có kế hoạch cụ thể cho sự phát triển
của thị trường. Trong điều kiện tăng tự nhiên tỉnh có kế hoạch cụ thể đối với
sở Y tế trong việc chăm sóc sức khỏe cho đội ngũ này, chú trọng đến thể chất,
tầm vóc của người Việt Nam nói chung, tầm vóc của người Bình Dương nói riêng.
Sở Giáo dục đào tạo có kế
hoạch cụ thể trong giáo dục đào tạo từ mẫu giáo đến trung học cơ sở, trung học
phổ thông. Có chiến lược đào tạo nghề cho tương lai, đủ loại trình độ theo yêu
cầu phát triển kinh tế, đa dạng hóa sức lao động, thích ứng với đa dạng hóa
ngành nghề. Đặc biệt đối với các trường phổ thông coi trọng việc rèn luyện thể
chất, tầm vóc con người Bình Dương có ý nghĩa rất cần thiết đối với bậc học
quan trọng này. Trên cơ sở đó các trường cần hình thành các trung tâm rèn luyện
thể chất, xây dựng các cơ sở vật chất để đáp ứng các yêu cầu này.
Để có được sức lao động, Sở
Lao động thương binh - Xã hội cân có sự phối hợp chặt chẽ với Sở Giáo dục Đào
tạo trong việc đào tạo đội ngũ nguồn lao động từ nay đến năm 2020, có như vậy
chúng ta mới phát triển được loại hàng hóa sức lao động tại chỗ, có kế hoạch
phát triển thị trường lâu dài, không thụ động bên ngoài đối với yêu cần phát
triển kinh tề xã hội của tỉnh.
Đối với nguồn sức lao động
tăng cơ học cần phải có dự kiến phân loại cả trước mắt và tương lai lâu dài;
vừa có kế hoạch thu hút nguồn lao động ở nơi khác chuyển đến vừa sử dụng có
hiệu quả nguồn lao động này. Trên cơ sở đó có chiến lược đào tạo nguồn lao động
này, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề của
tỉnh.
Hai là, phát
triển thị trường sức lao động
Trên cơ sở phát triển hàng
hoá sức lao động, thị trường sức lao động phát triển là một lẽ đương nhiên.
Dưới góc độ phát triển thị trường sức lao động cần phải lưu ý một số vấn đề sau
đây:
Đối với giá cả hàng hoá sức
lao động. Đây là hàng hóa đặc biệt, khác với hàng hóa thông thường, nó cũng do
giá trị quyết định nhưng ở đây được kết tinh trong một con người cụ thể, nên
giá cả hàng hoá sức lao động phải đảm bảo các tư liệu sinh hoạt cần thiết để
sản xuất và tái sản xuất sức lao động. Quan hệ giao dịch trên thị trường sức
lao động đòi hỏi cần phải quan tâm đến vấn đề này.
Phát triển thị trường sức lao
động cũng cần quan tâm đến sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan của
kinh tế thị trường. Quy luật giá trị được biểu hiện trên thị trường là giá cả
hay giá trị sức lao động. Chừng nào mà người mua và người bán thỏa thuận với nhau
về điều kiện cơ bản này thì giao dịch trên thị trường sức lao động mới được
thực hiện.
Quy luật cung cầu cũng là quy
luật kinh tế khách quan hoạt động trên thị trường sức lao động. Sự hoạt động
quy luật này thể hiện ở chỗ nếu cung về sức lao động lớn hơn cầu về sức lao
động thì giá cả sức lao động sẽ giảm và ngược lại. Thích ứng với từng giai đoạn
phát triển kinh tế, với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, có chính sách
kinh tế thích hợp nhất là yêu cầu phát triển ngành nghề gắn với việc nâng cao
trình độ công nghệ của từng doanh nghiệp cũng như trên phạm vi toàn tỉnh.
Trên thị trường sức lao động
cần phải vận dụng quy luật cạnh tranh. Việc hoạt động của quy luật này là rất
rõ nhất là khi nhiều khu công nghiệp, nhiều khu chế xuất được mở ra. Việc hình
thành các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã diễn ra cạnh tranh gay gắt trong việc
tuyển chọn thu hút người lao động. Thời gian vừa qua việc “chảy máu chất xám” ở
các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước là một minh chứng của sự cạnh tranh, do tiền
lương ở khu vực kinh tế nhà nước quá thấp. Đành rằng phát triển ở thành phần
nào cũng là thúc đẩy nền kinh tế phát triển, song khi mà kinh tế nhà nước giữ
vai trò chủ đạo thì điều tất yếu chính sách kinh tế trong đó chính sách tiền
lương cần phải quan tâm.
Để phát triển thị trường sức
lao động, cần phải đa dạng hóa thị trường, mở rộng và hình thành các trung tâm
giới thiệu việc làm; có nhiều hình thức phong phú và đa dạng, các sàn giao
dịch, các trung tâm giới thiệu việc làm, mạng internet…
Ba là, các
chính sách kinh tế của nhà nước
Để phát triển thị trường sức
lao động; dưới góc độ các cơ quan chuyên môn của tỉnh cần có dự báo nguồn lao
động hàng năm và từ nay đến năm 2020. Dự
báo nguồn lao động, là một trong những nội dung cho sự phát triển của thị
trường sức lao động. Cũng giống như hàng hóa thông thường dự báo nhu cầu của
nền sản xuất, nhu cầu của người tiêu dùng thì đây là dự báo nhu cầu của thị
trường sức lao động. Căn cứ dự báo không chỉ trên tầm vĩ mô mà phải bắt đầu từ
tầm vi mô, các doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp
nhà nước từ đó có căn cứ cho sự phát triển của thị trường sức lao động.
Với đặc trưng riêng của tỉnh,
với yêu cầu quá trình phát triển kinh tế của Bình Dương cần có chính sách kích
cầu nguồn lao động. Thông qua các chính sách kinh tế của tỉnh đặc biệt là chính
sách tiền lương, các điều kiện cần thiết cho nguời lao động như điều kiện ăn, ở
sinh hoạt, các vấn đề an sinh xã hội. Chính sách thu hút nhân tài theo yêu cầu
của phát triển kinh tế, những ngành yêu cầu công nghệ cao, trình độ sức lao
động tương ứng.
Nhà nước cần phải có khung
pháp lý đối với thị trường sức lao động. Trước hết đó là chính sách tiền lương,
giá cả hàng hóa sức lao động để thu hút nguồn lao động; đồng thời thông qua
chính sách tiền lương để tái sản xuất sức lao động là điều kiện để phát triển
thị trường sức lao động.
Thông qua các chính sách kinh
tế của tỉnh, vận dụng các quy luật kinh tế khách quan trên thị trường sức lao
động như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh; trong đó quy
luật tiền lương là quan trọng nhất, kèm theo nó là các chính sách bảo hiểm, trợ
cấp .v.v.tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động gắn bó với nghề nghiệp với
các doanh nghiệp lâu dài, không gây xáo trộn trong quá trình sản xuất kinh
doanh.
Cần có chính sách bồi dưỡng,
đào tạo, đào tạo lại sức lao động vừa nâng cao trình độ sức lao động cho người
lao động, vừa thích ứng với yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh theo yêu
cầu chuyển dịch cơ cấu ngành nghề và đa dạng hóa ngành nghề, đa dạng hóa sản
phẩm.
Thay cho lời
kết
Việc nghiên cứu hàng hóa sức
lao động và phát triển thị trường sức lao động là vấn đề cần thiết và quan
trọng. Không còn nghi ngờ gì nữa sức lao động là một trong hai yếu tố cơ bản
quyết định sự phát triển của nền sản xuất xã hội. Song song với việc hình thành
và phát triển thị trường tư liệu sản xuất thì việc phát triển thị trường sức
lao động là một lẽ đương nhiên. Chính vì sự cần thiết khách quan đó đề tài phát
triển thị trường sức lao động của Bình Dương không chỉ là sự cần thiết mà là
nhân tố quan trọng quyết định sức sống, sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Điều chắc chắn rằng muốn phát triển thị trường này cần phải phát triển hàng hoá
sức lao động, các chính sách kinh tế xã hội của tỉnh và trên cơ sở đó mới phát
triển được thị trường sức lao động của tỉnh đến năm 2020./.
|