|
Báo cáo tham luận của TS. Nguyễn Hữu Thảo - Trường ĐH Kinh tế TP HCM
1.
Sự cần
thiết khách quan phát triển thị trường sức lao động Sức lao động - yếu tố cơ
bản của mọi quá trình sản xuất xã hội.
Như mọi người đều rõ bất cứ quá trình sản
xuất xã hội nào cũng đều cần có ba yếu tố là đối tượng lao động, tư liệu lao
động và sức lao động. Ngay từ khi con người biết sản xuất, tư liệu lao động còn
rất thô sơ, tuy nhiên nhờ sức lao động đã làm thay đổi tất cả các đối tượng lao
động. Từ công cụ lao động là thủ công chỉ có tác dụng “nối dài cánh tay con người”;
con người đã biết khám phá ra nhiều tư liệu lao động mới và đặc biệt là các đối
tượng lao động chưa từng có trong tự nhiên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
“Bàn
tay ta làm nên tất cả. Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”.
Hoạt động của sức lao động đã làm sống lại các yếu tố cơ bản của quá trình sản
xuất và tạo ra các sản phẩm mới làm tăng của cải cho xã hội, cho việc thỏa mãn
nhu cầu ngày càng tốt hơn.
Trong lịch sử phát triển của xã hội, sức
lao động ngày càng được giải phóng. Từ chỗ về mặt thể chất và tinh thần con
người còn bị hạn chế, con người dần dần đã khám phá tự nhiên và cải tạo tự
nhiên, biến tự nhiên thành những của cải có ích cho con người và xã hội. Thời
kỳ công xã nguyên thủy, con người còn lệ thuộc đậm nét vào tự nhiên: “Trông
trời, trông đất, trong mây; Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm; Trông
cho chân cứng, đá mềm; Trời yên, biển lặng, mới yên tấm lòng”.
Thời chiếm hữu nô lệ con người không còn lệ thuộc vào tự nhiên mà chỉ lệ thuộc
vào chủ nô, con người lao động chỉ được coi là công cụ biết nói. Đến phương
thức sản xuất phong kiến thông qua hình thức phát canh thu tô của địa chủ con
người đã được làm chủ về giá trị sử dụng trên mảnh đất của mình, chỉ phải cống
nạp cho địa chủ phần sản phẩm mà họ được sử dụng trên đất ấy của địa chủ. Đến
phương thức sản xuất tư bản người lao động được tự do hơn, được làm chủ sức lao
động của mình, có thể bán sức lao động cho nhà tư bản này, hoặc cho nhà tư bản
khác.
Điểm lại lịch sử như vậy để thấy rõ sức
lao động của con người ngày càng được giải phòng, đặc biệt trong kinh tế thị
trường, sức lao động là hàng hóa, có quyền trao đổi mua bán, phát triển thị
trường sức lao động là một tất yếu khách quan. Vì vậy, việc tìm hiểu thị trường
sức lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong quá trình phát triển kinh tế
hàng hóa, kinh tế thị trường ở Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương
nói riêng.
2.
Sức lao động và thị trường sức lao động
Sức lao động - theo định nghĩa thông
thường là khả năng để lao động, sức lao động bao gồm thể lực trí lực và nói
chung là sức khỏe để tiến hành lao động. Tuy nhiên, theo chúng tôi phải phân
tích tường tận hơn để hiểu rõ sức lao động, những đặc trưng cần phải có để tiến
hành lao động. Trước hết, để có sức lao động cần phải có một thể lực nhất định
về vóc dáng, chiều cao, trọng lượng, nhất là một số ngành nghề lao động phổ
thông. Không có được một thể chất cần thiết không thể tiến hành lao động. Tiếp
đến cũng thể hiện bên ngoài là các giác quan để tiến hành lao động mà con người
đã khái quát đó là ngũ giác. Bởi từ những giác quan mới có trực quan sinh động,
tới tư duy trừu tượng. Nói chung những lao động thủ công ở các doanh nghiệp
may, dệt, da rất cần những giác quan quan trọng này.
Đi sâu vào nội dung bên trong của sức lao
động là sức óc, sức thần kinh, sức kiến thức cơ bản và chuyên sâu của từng
chuyên ngành. Theo yêu cầu của nghề nghiệp, loại sức lao động này không tự mình
có được phải qua trường lớp đào tạo bồi dưỡng bài bản theo từng chuyên ngành
mới và với một thời gian nhất định mới có được sức lao động. Trên ý nghĩa đó,
trong kinh tế thị trường nếu có chiến lược phát triển ngành nghề, có cơ cấu
kinh tế thích hợp sẽ có được một chiến lược phát triển sức lao động đúng đắn
theo yêu cầu sự phát triển ngành nghề nhất định, mới phát triển được thị trường
sức lao động . Hơn thế, tùy theo tính chất của từng ngành nghề để có kế hoạch
đầu tư đào tạo thích ứng không chỉ trước mắt mà tương lai lâu dài, tùy theo sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tương lai 5 năm, 10 năm, 20 năm…
Phân tích đặc điểm này để thấy rõ chiến
lược phát triển thị trường sức lao động không thể chỉ trước mắt theo cung cầu
lao động trên thị trường, bởi nếu như vậy sẽ không giải quyết được những mất
cân đối trên thị trường sức lao động trong điều kiện của từng địa phương cũng
như trong cả nước, trong tương lai lâu dài.
Thực trạng ở Việt Nam nói chung cũng như ở
tỉnh Bình Dương nói riêng trong những năm vừa qua, việc phát triển của sản
xuất, việc mở rộng các doanh nghiệp, hình thành các khu công nghiệp, các khu
chế xuất đã không thu hút được nguồn lao động cả về số lượng, chất lượng và cơ
cấu theo yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Thậm chí
chỉ lao lao động giản đơn, nhưng sau tết âm lịch nhiều doanh nghiệp công nhân
đã không trở lại làm việc, buộc một số doanh nghiệp đã có những “chiêu”
để giữ chân công nhân như trích lại một phần tiền thưởng sau tết mới trả cho
công nhân là một minh chứng. Ơ đây mới chỉ đề cập đến lao động phổ thông, chưa
đề cập đến đội ngũ sức lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Sở dĩ như
vậy bởi họ có quyền bán sức lao động, song chưa có sự ràng buộc nào về kinh
tế.
Việc nghiên cứu sức lao động để phát triển
thị trường sức lao động, còn đặt ra một vấn đề quan trọng đến việc hình thành
giá cả trên thị trường sức lao động. Nhà kinh tế học William Petty khi phân
tích về thị trường sức lao động trong buổi đầu của kinh tế thị trường, với nền
kinh tế chưa phát triển, trình độ lao động thủ công là chính, ông cho rằng “ Tiền
lương là những tư liệu sinh hoạt vật chất tối thiểu cần thiết đối với người
công nhân, tiền lương cao công nhân thích uống rượu hay nghỉ việc”.
Lý giải vấn đề này cho thấy giai đoạn đầu nền kinh tế trình độ sức lao động
thấp, ngành nghề chưa phát triển, việc làm là nhân tố tối cần thiết và quan
trọng đối với người công nhân. Những nhu cầu cơ bản tối cần thiết chỉ là những
tư liệu sinh hoạt vật chất, chưa đề cập các tư liệu sinh hoạt về mặt tinh thần.
Thị trường sức lao động Việt Nam
trong những năm qua cũng đang ở trong giai đoạn như vậy. Người lao động ở nông
thôn trong quá trình đô thị hóa dẫn đến lao động dư thừa, lao động nông nghiệp
chủ yếu là lao động thủ công, chưa qua đào tạo ngành nghề thì mức lương chỉ cần
tối thiều đủ sống, cao hơn lao động trong
nông nghiệp là họ có thể chấp nhận được. Hơn nữa với đặc trưng trong
lĩnh vực nông nghiệp thời gian gián đoạn lao động tương đối dài; lao động nông nhàn dẫn đến
nam, nữ thanh niên ra thành thị tìm kiếm việc làm ngày càng nhiều là điều không
tránh khỏi, thị trường sức lao động đang ở dạng sơ khai chưa phát triển, tương
ứng với chất lượng lao động như vậy.
Song đến giai đoạn công trường thủ công
yêu cầu sức lao động không chỉ là những tư liệu sinh hoạt tối thiểu, theo quan
điểm của nhà kinh tế học Adam Smith, tiền lương là những tư liệu sinh hoạt của
người công nhân và con của anh ta. Đặc điểm cơ cấu tiền lương trong giai đoạn
này thể hiện theo yêu cầu của việc phát triển của thị trường sức lao động. Bên
cạnh người lao động đòi hỏi về nhu cầu vật chất, con người còn đòi hỏi cả nhu cầu tinh thần.
Tiển lương phải đảm bảo để sản xuất và tái sản xuất sức lao động của người công
nhân, trong đó bao gồm cả chi phí đào tạo người công nhân, là nhân tố yêu cầu
quan trọng để tái sản xuất sức lao động . Đề cập nhân tố này để thấy rõ trong
kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam phần chi phí nuôi sống người
công nhân và chi phì đào tạo người công nhân là hai vấn đề liên quan đến thị
trường sức lao động. Bởi nếu người công có được sức lao động như vậy thì ai sẽ
trả chi phí ấy; nếu các chi phí ấy do người công nhân tự bỏ ra; hay nói cách
khác phải tính tiền lượng ra sao cho tương xứng với sức lao động đã được nuôi
dưỡng và `đào tạo. Một đặc trưng nổi bật bản chất nền kinh tế mà chúng ta xây
dựng, Nhà nước bao cấp khá nhiều, với bản chất tốt đẹp cho người lao động,
nhưng sau khi được đào tạo từ các cơ sở Nhà nước, các thành phần kinh tế khác
sử dụng, thì hiệu quả kinh tế của vấn đề này như thế nào? đó là những câu hỏi
đuợc đặt ra trong thị trường sức lao động mà chúng ta cần giải quyết.
Nhà kinh tế học Adam Smith khi phân tích
tiền lương ông còn cho rằng tiền lương bao gồm cả việc nuôi sống con của người
công nhân. Sở dĩ ông đặt vấn đề như vậy, vì nếu tiền lương không có phần chi
phí để nuôi con thì khi người công nhân không còn khả năng lao động sẽ không có
sức lao động thay thế trên thị trường lao động. Đây là những vấn đề cần nghiên
cứu khi xác định giá cả sức lao động trên thị trường sức lao động, nhất là
những công nhân gắn bó với doanh nghiệp của mình trong thời gian dài là những
nhân tố cần phải tính đến. Còn quan điểm tiền lương của Adam Smith là tiền
lương cao. Ông xác định tiền lương cao trên hai nghĩa, nghĩa thứ nhất trước
mắt, ông cho rằng tiền lương cao là nguồn khuyến khích động viên người lao động
rất lớn, làm cho người lao động hăng say tích cực lao động hơn so với những nơi
trả tiền lương thấp. Về lâu dài ông cho rằng người công nhân bao giờ cũng hy
vọng có phần dư dật lúc tuổi già; do đó nếu doanh nghiệp trả lương cao thì công
nhân sẽ gắn bó hơn với doanh nghiệp, sẽ không có sự di chuyển lao động từ nơi
này sang nơi khác. Đây chính là những căn cứ liên quan đến xác định giá cả sức
lao động trên thị trường lao động.
Quan điểm tiền lương của nhà kinh tế học
David Ricardo, có cách nhìn rộng hơn so với Adam Smith khi xác định về cơ cấu
tiền lương; ông cho rằng tiền lương là những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho
người công nhân và gia đình của anh ta. Quan điểm này cho thấy khái niệm gia
đình khi xác định tiền lương (giá cả sức lao động) được mở rộng hơn nhiều, gia
đình là tế bào kinh tế của xã hội, gắn với mỗi giai đoạn phát triển khác nhau,
tiền lương khác nhau, mỗi địa phương khác nhau tiền lương khác nhau (giá cả
hàng hóa sức lao động khác nhau); tiền lương tùy thuộc vào cung cầu của lao
động. Những căn cứ này là những tiêu chí để xác định tiền lương trên thị trường
sức lao động hiện nay ở Việt Nam.
Đối với quy luật tiền lương David Ricardo lại cho rằng tiền lương tối thiểu;
bằng phương pháp phản chứng để ông xác định tiền lương tối thiểu. Theo ông tiền
lương cao đời sống sung túc dẫn đến sinh đẻ nhiều, mức sống cũng cao sẽ dẫn đến
chết ít; điều này tất yếu làm tăng cung lao động. cạnh tranh gay gắt giữa những
người lao động; người lao động muốn sống, muốn tồn tại phải có việc làm cho nên
lương thấp cũng phải làm và do vậy tiền lương chỉ nên mức tối thiểu.
Karl Marx nhà kinh tế học kiệt xuất trong
lịch sử dựa trên quan điểm tiền lương của các nhà kinh tế học, ông phân tích và
làm sáng tỏ bản chất của tiền lương là giá cả hay giá trị sức lao động chứ
không phải giá cả của lao động. Đây là một quan điểm đúng đắn nhằm xác định
tiền lương trả theo đúng giá cả hay giá trị sức lao động. Luận điểm này thể
hiện khi xác định tiền lương phải dựa trên cơ sở sức lao động lao động cả về
thể chất và tinh thần, kiến thức kỹ năng được đào tạo để có sức lao động cho
quá trình lao động. Karl Marx đã xác định rất rõ trong cấu trúc tiền lương bao
gồm ba bô phận: một là, chi phí nuôi sống người công nhân; hai là, chi phí đào
tạo người công nhân và ba là, chi phí nuôi sống gia đình người công nhân. Việc
phân định rõ các bộ phận cấu thành tiền lương của Karl Marx có ý nghĩa quan
trọng trong việc xác định giá cả sức lao động trên thị trường sức lao động.
Như vậy việc nghiên cứu loại hàng hóa đặc
biệt, hàng hóa sức lao động trên thị trường sức lao động, có ý nghĩa quan trọng
và cần thiết; bởi lẽ đây là cơ sở để xác định giá cả hàng hóa sức lao động trên
thị trường sức lao động trong điều kiện nền kinh tế nước ta cũng như ở Bình
Dương; nhất là trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, trình độ sức lao
động không đều, được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, thấy được “vẻ
đẹp” đa dạng của thị trường sức lao động khác với các thị trường hàng
hóa thông thường.
Đương nhiên, nhân tố cốt lõi của phát
triển thị trường sức lao động là hàng hóa sức lao động. Hàng hóa sức lao động
càng đa dạng về chủng loại, càng phong phú thì thị trường sức lao động càng
phát triển, càng đáp ứng được nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế phân công lại
lao động xã hội, phát triển ngành nghề và nhất là ngày nay khi phân công lao
động xã hội đã vượt khỏi phạm vi quốc gia và trở thành quốc tế.
Phát triển thị trường sức lao động không
chỉ đơn thuần về số lượng và chủng loại phong phú mà còn là phẩm chất của loại
hàng hóa này. Do đó, đây là thị trường sức lao động, chứ không phải thị trường
lao động, vấn đề này chỉ có thể đạt được khi tiền tệ hóa hàng hóa sức lao động
nghĩa là phải tính đúng, tính đủ trong giá trị sức lao động, và tất yếu hàng
hóa sức lao động cũng được thương phẩm hóa. Trong điều kiện của chủ nghĩa
tư bản, thương phẩm hóa sức lao động là tiền đề chuyển hóa tiền tệ
thành tư bản, là cơ sở của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở
Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường và phát triển kinh tế thị thị trường,
đương nhiên sức lao động là hàng hóa. Sự
phát triển của sức lao động xã hội và nhu cầu kinh tế hàng hóa tạo
thành đối với hàng hoá sức lao động, việc nâng cao giá cả hàng hóa
sức lao động dẫn đến nảy sinh các biến động như “xuất ngoại” đi đến các
tỉnh khác tìm việc, buộc người lao động phải học tập kỹ thuật, học tập
kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, tìm tòi lượng thông tin phong phú để có
được sức lao động mới mong tìm được việc làm.
Thực tiễn cho thấy sự khác nhau về kinh
tế, về thu nhập, việc làm và điều kiện sống ở nhiều vùng quê Việt Nam, dẫn đến
nhiều địa phương cho phép người lao động từ những vùng tương đối lạc
hậu, người lao động thu nhập tương đối thấp tiến vào thị trường sức
lao động, bán sức lao động. Đặc trưng nổi bật của kinh tế thị trường đó là
từ chỗ kinh tế vận hành theo quỹ đạo kinh tế phi hàng hóa sang quỹ
đạo kinh tế hàng hoá. Người lao động trong cơ chế kế hoạch hóa từ hoạt động
theo kế hoạch tự giác, nhà nước tổ chức quản lý đào tạo, sau đó giao cho các tổ
chức kinh tế trên cơ sở điều động, biên chế cho các tổ chức kinh tế nhà
nước hoặc tập thể chi phối, chuyển thành người lao động đem sức lao
động, coi như hàng hoá bán cho các xí nghiệp. Cơ chế ấy đã làm cho sức
lao động chưa được khơi dậy, chưa phát huy hết khả năng, chưa phải là hàng hóa
thực sự, thì việc tự rèn luyện, học tập, nâng cao trình độ tay nghề sẽ chưa
được chú trọng đúng mức.
Chính
vì lẽ đó thương phẩm hóa hàng hóa sức lao động có ý nghĩa quan trọng trong
kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường đặc biệt đối với Việt Nam. Thương
phẩm hóa hàng hoá sức lao động điều này được thực hiện theo hai hướng việc
tuyển chọn giữa người lao động với xí nghiệp, nghĩa là người lao động
được tuyển chọn nơi làm việc theo khả năng sức lao động, đồng thời đối với các
doanh nghiệp tuyển chọn sắp xếp sử dụng sức lao động gắn với đặc trưng vị trí,
nghề nghiệp yêu cầu đòi hỏi trong phạm vi doanh nghiệp
Vấn đề quan trọng khi sức lao động trở
thành hàng hóa đòi hỏi khi tính giá trị sức lao động, đó là quyền sở hữu sức
lao động phải thuộc về sở hữu cá nhân người lao động. Bởi quyền sở hữu sức
lao động của người lao động là nhân tố quyết định sức lao động trở
thành hàng hóa, đến việc bán sức lao động. Bởi đặc trưng hàng hóa sức lao
động chỉ bán quyền sử dụng chứ không bán quyền sở hữu. Đây là một trong những
vấn đề phức tạp mà chúng ta không thể giải quyết ngay trong một thời điểm cụ
thể do liên quan đến con người đến chi phí nuôi dưỡng, chi phí đào tạo để có
được sức lao động; do nó có phần liên quan đến gia đình và phần liên quan đến
xã hội. Trong các hội thảo khoa học chúng ta đã đề cập chỉ riêng dưới hình thức
đào tạo là trường công thì Nhà nước bỏ chi phí đào tạo sức lao động, thì nhà
nước sẽ được sử dụng như thế nào, chi phí này được tính ra sao; sức lao động
được đào tạo ở trường tư thì quyền sở hữu chắc đã rõ. Đây là một trong những
nội dung cần giải quyết đối với hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao
động.
3. Những vấn đề cần giải quyết
Việc phát triển hàng hóa sức lao động và
thị trường sức lao động ở Bình Dương không chỉ là triển khai thực hiện đưa nghị
quyết Đại hội Đảng XI đi vào cuộc sống, mà còn là thực hiện nghị quyết Đại hội
Đảng bộ tỉnh Bình Dương, là thúc đẩy kinh tế Bình Dương phát triển. Dưới góc độ
của một hội thảo khoa học phát triển thị trường sức lao động của tỉnh Bình
Dương, chúng tôi xin đề xuất các giải pháp sau đây:
Một là,
phát triển hàng hóa sức lao động:
Đây là giải pháp đầu tiên, giải pháp quan
trọng nhất đối với phát triển thị trường sức lao động, bởi lẽ nếu không có hàng
hóa sẽ không có thị trường. Do đó việc phát triển nguồn lực lao động nhân tố
quyết định sự phát triển của thị trường, cung cấp cho sự phát triển kinh tế có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc phát triển hàng hóa sức lao động phải đảm bảo
được mấy tiêu chí sau đây:
Về thể chất, phải có kế hoạch nâng cao
chất lượng dân số đối với cả nước nói chung cũng như tỉnh Bình Dương nói riêng.
Để đạt được tốc độ cao phát triển đất nước phải phấn đấu đạt được số người lao
động trong thời kỳ dân số vàng lớn gấp 2 lần tỷ lệ người già và trẻ em. Liên
quan trực tiếp đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn lao động là chỉ số phát
triển con người (HDI) ở nước ta vẫn còn ở mức thấp; tỷ lệ trẻ em thừa cân, rối
nhiễu tâm trí, tự kỷ ngày một tăng; tầm vóc, thể lực con người Việt Nam còn
nhiều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lao động sau này. Đặc biệt là
chiều cao, cân nặng và sức bền còn thấp xa so với nhiều nước trong khu vực.
Tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân, nạo phá thai, lạm dụng chất gây
nghiện như thuốc lá, rượu bia ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên có xu
hướng gia tăng, những vấn đề căng thẳng về tâm lý ngày càng trở nên nghiêm
trọng đối với giới trẻ,... Đây chính là những nhân tố cản trở cần được giải
quyết liên quan đến thị trường sức lao động năm 2020.
Việc đối phó với dân số già đến năm 2020
là những thách thức cần giải quyết dân số Việt Nam đang trong quá trình già
hóa, số lượng người cao tuổi ngày càng tăng. Năm 2009, số người già từ 60 tuổi
trở lên chỉ bằng một phần ba số trẻ em dưới 15 tuổi. Theo dự báo của Ủy Ban dân
số, kế hoạch hóa gia đình sau 20 năm nữa (2030) số người già sẽ ngang bằng với
số trẻ em. Đến năm 2047, số người già sẽ bằng 1,5 lần số trẻ em; đến cuối những
năm 60 của thế kỷ này thì số người già sẽ gấp đôi số trẻ em. Sự mất cân bằng về
giới tính cũng đang là một vấn đề bức xúc, sự già hóa trong tương lai về dân số
sẽ dẫn đến mất cân đối trong nguồn cung lao động. Theo Ủy ban Dân số, kế hoạch
hóa gia đình số người từ 60 tuổi trở lên sẽ tăng rất nhanh trong thời gian tới,
quy mô gia đình sẽ nhỏ lại, tỷ lệ sống độc thân càng gia tăng, nhất là phụ nữ.
Khi đó các chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm, hưu trí,... phải tăng chi cho
phù hợp với xu hướng biến đổi của dân số và ngược lại thị trường sức lao động
cũng sẽ giảm tương ứng, khó khăn cho sự phát triển kinh tế trong tương lai.
Hơn thế, sự tác động của cơ cấu dân số ảnh
hưởng đến thị trường sức lao động xu hướng già hóa dân số ở nước ta ngày càng
thể hiện rõ nét và đang đứng trước ngưỡng cửa này. Vì thế, giải pháp cho sự
phát triển thị trường sức lao động từ Trung ương đến cơ sở, tỉnh Bình Dương cần
có kế hoạch dài hạn, chủ động với xu thế già hóa dân số đang phát triển nhanh.
Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hàng hóa sức lao động, đến phát triển thị
trường sức lao động, nghĩa là giải quyết vấn đề này ở Bình Dương không thể tăng
dân số tự nhiên mà phải tăng cơ học.
Do
đó việc khảo sát của đề tài về lứa tuổi, giới tính, trình độ, tăng cơ học về số
lượng người lao động. Dự đoán từ nay đến năm 2020 về nguồn lao động đối với
laoi hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước,
liên doanh với nước ngoài để có chiến lược phát triển hàng hóa sức lao động là
hết sức cần thiết.
Hai là, phát triển thị trường sức lao động:
Muốn phát triển thị trường sức lao động
cần phải có kế hoạch dự báo nguồn nhân lực cho thị trường sức lao động. Trong
điều kiện hiện nay ở Bình Dương việc dự báo nguồn nhân lực, nhân tố cốt lõi của
thị trường sức lao động chưa thật chặt chẽ, chính xác; do vậy chưa đáp ứng được
những nhu cầu trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhu cầu của các cơ quan quản
lý, nhu cầu của các đơn vị đào tạo, cũng như nhu cầu của đơn vị sử dụng nguồn
lao động đến năm 2020.
Chính vì lẽ đó, để giải quyết tốt vấn đề
này, ngành thống kê của tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với sở kế hoạch đầu tư, sở
giáo dục đào tạo, sở lao động thương binh xã hội… thu thập số liệu, các dữ liệu
một cách đồng bộ, trên cơ sở đó dự báo nhu cầu nhân lực cho tiến trình phát
triển kinh tế của tỉnh.
Việc dự báo nhu cầu nhân lực của tình cần
phải đảm bảo được các tiêu chí về thực trạng sức lao động, thực trạng lao động
việc làm, cơ cấu các loại hình doanh nghiệp, cơ cấu sử dụng nguồn lao động theo
yêu cầu phát triển ngành nghề. Trên cơ sở đó có dự báo cho thời gian tới về các
điều kiện liên quan đến việc làm như điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, phương tiện đi
lại, vấn đề an sinh xã hội…Đây là những thông tin cần thiết và là cơ sở dữ liệu
trong giao dịch trên thị trường sức lao động.
Cần phải có kế hoạch cụ thể, phối hợp chặt
chẽ giữa các cơ quan ban ngành của tỉnh khảo sát nhu cầu cụ thể của từng doanh
nghiệp, kể cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khảo sát tiền lương của các doanh
nghiệp tư nhân trên cơ sở đó đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp, xác định mục
tiêu khách hàng của mình là ai, để xây dựng tiêu chí hoạt động cho phù hợp với
doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.
Thị trường sức lao động chỉ có thể phát
triển trên cơ sở phát triển hàng hóa sức lao động. Để thị trường sức động phát
triển phải nâng cao chất lượng sức lao động, đa dạng hóa chủng loại hàng hóa
thì mới đa dạng thị trường.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường,
nền kinh tế nhiều thành phần; Bình Dương không là một ngoại lệ, đòi hỏi cần
phải có các loại thị trường tương ứng, thị trường sức lao động cho các thành
phần kinh tế, bởi mỗi thành phần kinh tế có yêu cầu riêng, có đặc điểm riêng.
Mỗi một thành phần kinh tế có một thị trường sức lao động tương ứng. Thị trường
sức lao động cho thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể,
kinh tế liên doanh…
Tiến tới hình thành phát triển các thị
trường chuyên ngành gắn với từng loại trình độ sức lao động, từng ngành nghề
theo yêu cầu của phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh. Thành lập trung tâm dự
báo Palmi, hay trung tâm giới thiệu việc làm. Hiện nay có quan điểm cho rằng
năm nhiệm vụ của trung tâm này gần như trùng lắp với trung tâm giới thiệu việc
làm.
Chú trọng phát triển thị trường sức lao
động, bởi đây là nơi gặp gỡ giữa khách hàng và chủ hàng, phải tạo sự chú ý đối
với khách hàng trong đó dự báo nguồn sức lao động đóng vai trò quan trọng trong
việc hoạch định nguồn nhân lực cũng như định hướng cho các đơn vị đào tạo, định
hướng nghề nghiệp cho các loại lao động cần sử dụng trong tương lai theo yêu
cầu phát triển của thị trường sức lao động.
Ba là, các
chính sách kinh tế của nhà nước:
Để phát triển thị trường sức lao động trên
cả nước nói chung và Bình Dương nói riêng, tỉnh Bình Dương phải xây dựng các
nội dung liên quan đến phát triển thể lực tầm vóc, kết hợp, lồng ghép với các
chương trình. Ủy Ban nhân dân tỉnh, sở Y tế, sở Giáo dục cần xây dựng hệ thống
chỉ tiêu, chỉ số đánh giá hiệu quả, xác định các tiêu chí phát triển thể lực,
tầm vóc bảo đảm căn cứ khoa học, cho thị trường sức lao động đến năm 2020 phù
hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Tuyên truyền vận động, giáo dục nhân dân
nâng cao ý thức, hiểu rõ vai trò quan trọng của công tác dân số, hình thành
phong trào phấn đấu cải thiện, nâng cao thể lực, tầm vóc trong cộng đồng xã
hội, đề cao vai trò và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong công tác tuyên truyền, vận
động thực hiện các mục tiêu phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam và của
tỉnh Bình Dương. Phát huy vai trò lãnh đạo của Ủy ban nhân dân các cấp trong
việc triển khai thực hiện các mục tiêu về dân số, cơ cấu nguồn lao động. Có cơ
chế sử dụng các công trình thể dục thể thao trên địa bàn phục vụ cho hoạt động
giáo dục thể chất trong trường học (chính khóa và ngoại khóa); bổ sung chức
năng hỗ trợ giáo dục thể chất ở các trường học cho các cơ sở tập luyện, thi đấu
của ngành thể dục, thể thao ở các cấp, làm căn cứ, cơ sở xây dựng, quy hoạch phát triển cơ sở vật chất
ngành thể dục thể thao đến năm 2020.
Các chính sách liên quan đến thị trường
sức lao động, Nhà nước cần quy định các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng
lương theo chất lượng lao động, của từng ngành nghề, đặc điểm điều kiện, môi
trường lao động để người lao động và người sử dụng lao động có cơ sở xác định
tiền lương, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để đảm bảo quyền
lợi của người lao động. Hoàn thiện môi trường pháp lý, gắn cải cách tiền lương
với cải cách kinh tế, tạo sự gắn kết đồng bộ giữa các loại thị trường để thúc
đẩy nhau phát triển lành mạnh. Đẩy mạnh hoạt động tư pháp, củng cố cơ quan bảo
vệ luật pháp, thực hiện nghiêm túc công tác điều tra, thanh tra và xét xử
nghiêm minh, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển thị trường sức lao động.
Tăng cường sự quản lý và giám sát của Nhà
nước đối với thị trường sức lao động. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động
của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động của thị trường này. Xử lý
tốt các trường hợp tranh chấp, bảo đảm lợi ích chính đáng của người lao động và
người sử dụng lao động. Tạo cung lao động đáp ứng thị trường về số lượng, chất
lượng và cơ cấu ngành nghề, đặc biệt là tỷ lệ lao động đã qua đào tạo. Tăng cầu
lao động thông qua phát triển kinh doanh sản xuất dịch vụ trong các
thành phần kinh tế.
Thay cho lời kết
Việc phát triển thị trường sức lao động
trên địa bàn tỉnh Bình Dương là một yêu cầu cấp thiết. Bởi tỉnh muốn phát triển
phải đầu tư, chúng ta không chỉ đầu tư về giá trị mà còn phải đầu tư về mặt
hiện vật. Đặc biệt đầu tư về mặt hiện vật có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, trong
đó cốt lõi nhất là đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đầu tư phát triển thị
trường sức lao động, Lãnh tụ thiên tài V.I. Lenin đã khẳng định: “ Lực
lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là người công nhân là người lao
động”.
Việc phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận
và thực tiễn hàng hóa sức lao động nhân tố cốt lõi cấu thành thị trường sức lao
động, phát triển thị trường sức lao động, những chính sách kinh tế liên quan
của Nhà nước, của tỉnh Bình Dương để
phát triển thị trường sức lao động là hết sức cần thiết là nội dung quan trọng
trong việc thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của tỉnh là đưa nghị quyết
Đại hội Đảng XI đi vào cuộc sống của tỉnh Bình Dương.
|