Liên kết website
Lượt truy cập: 133617
Phát triển thị trưởng sức lao động ở Bình Dương và những giải pháp
Báo cáo tham luận của TS. Nguyễn Hữu Thảo - Trường ĐH Kinh tế TP HCM



1.     Sự cần thiết khách quan phát triển thị trường sức lao động Sức lao động - yếu tố cơ bản của mọi quá trình sản xuất xã hội.

       Như mọi người đều rõ bất cứ quá trình sản xuất xã hội nào cũng đều cần có ba yếu tố là đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Ngay từ khi con người biết sản xuất, tư liệu lao động còn rất thô sơ, tuy nhiên nhờ sức lao động đã làm thay đổi tất cả các đối tượng lao động. Từ công cụ lao động là thủ công chỉ có tác dụng “nối dài cánh tay con người”; con người đã biết khám phá ra nhiều tư liệu lao động mới và đặc biệt là các đối tượng lao động chưa từng có trong tự nhiên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Bàn tay ta làm nên tất cả. Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”. Hoạt động của sức lao động đã làm sống lại các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và tạo ra các sản phẩm mới làm tăng của cải cho xã hội, cho việc thỏa mãn nhu cầu ngày càng tốt hơn.

      Trong lịch sử phát triển của xã hội, sức lao động ngày càng được giải phóng. Từ chỗ về mặt thể chất và tinh thần con người còn bị hạn chế, con người dần dần đã khám phá tự nhiên và cải tạo tự nhiên, biến tự nhiên thành những của cải có ích cho con người và xã hội. Thời kỳ công xã nguyên thủy, con người còn lệ thuộc đậm nét vào tự nhiên: “Trông trời, trông đất, trong mây; Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm; Trông cho chân cứng, đá mềm; Trời yên, biển lặng, mới yên tấm lòng”. Thời chiếm hữu nô lệ con người không còn lệ thuộc vào tự nhiên mà chỉ lệ thuộc vào chủ nô, con người lao động chỉ được coi là công cụ biết nói. Đến phương thức sản xuất phong kiến thông qua hình thức phát canh thu tô của địa chủ con người đã được làm chủ về giá trị sử dụng trên mảnh đất của mình, chỉ phải cống nạp cho địa chủ phần sản phẩm mà họ được sử dụng trên đất ấy của địa chủ. Đến phương thức sản xuất tư bản người lao động được tự do hơn, được làm chủ sức lao động của mình, có thể bán sức lao động cho nhà tư bản này, hoặc cho nhà tư bản khác.

 

     Điểm lại lịch sử như vậy để thấy rõ sức lao động của con người ngày càng được giải phòng, đặc biệt trong kinh tế thị trường, sức lao động là hàng hóa, có quyền trao đổi mua bán, phát triển thị trường sức lao động là một tất yếu khách quan. Vì vậy, việc tìm hiểu thị trường sức lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường ở Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng.

2.  Sức lao động và thị trường sức lao động

      Sức lao động - theo định nghĩa thông thường là khả năng để lao động, sức lao động bao gồm thể lực trí lực và nói chung là sức khỏe để tiến hành lao động. Tuy nhiên, theo chúng tôi phải phân tích tường tận hơn để hiểu rõ sức lao động, những đặc trưng cần phải có để tiến hành lao động. Trước hết, để có sức lao động cần phải có một thể lực nhất định về vóc dáng, chiều cao, trọng lượng, nhất là một số ngành nghề lao động phổ thông. Không có được một thể chất cần thiết không thể tiến hành lao động. Tiếp đến cũng thể hiện bên ngoài là các giác quan để tiến hành lao động mà con người đã khái quát đó là ngũ giác. Bởi từ những giác quan mới có trực quan sinh động, tới tư duy trừu tượng. Nói chung những lao động thủ công ở các doanh nghiệp may, dệt, da rất cần những giác quan quan trọng này.

      Đi sâu vào nội dung bên trong của sức lao động là sức óc, sức thần kinh, sức kiến thức cơ bản và chuyên sâu của từng chuyên ngành. Theo yêu cầu của nghề nghiệp, loại sức lao động này không tự mình có được phải qua trường lớp đào tạo bồi dưỡng bài bản theo từng chuyên ngành mới và với một thời gian nhất định mới có được sức lao động. Trên ý nghĩa đó, trong kinh tế thị trường nếu có chiến lược phát triển ngành nghề, có cơ cấu kinh tế thích hợp sẽ có được một chiến lược phát triển sức lao động đúng đắn theo yêu cầu sự phát triển ngành nghề nhất định, mới phát triển được thị trường sức lao động . Hơn thế, tùy theo tính chất của từng ngành nghề để có kế hoạch đầu tư đào tạo thích ứng không chỉ trước mắt mà tương lai lâu dài, tùy theo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tương lai 5 năm, 10 năm, 20 năm…

      Phân tích đặc điểm này để thấy rõ chiến lược phát triển thị trường sức lao động không thể chỉ trước mắt theo cung cầu lao động trên thị trường, bởi nếu như vậy sẽ không giải quyết được những mất cân đối trên thị trường sức lao động trong điều kiện của từng địa phương cũng như trong cả nước, trong tương lai lâu dài.

       Thực trạng ở Việt Nam nói chung cũng như ở tỉnh Bình Dương nói riêng trong những năm vừa qua, việc phát triển của sản xuất, việc mở rộng các doanh nghiệp, hình thành các khu công nghiệp, các khu chế xuất đã không thu hút được nguồn lao động cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu theo yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Thậm chí chỉ lao lao động giản đơn, nhưng sau tết âm lịch nhiều doanh nghiệp công nhân đã không trở lại làm việc, buộc một số doanh nghiệp đã có những “chiêu” để giữ chân công nhân như trích lại một phần tiền thưởng sau tết mới trả cho công nhân là một minh chứng. Ơ đây mới chỉ đề cập đến lao động phổ thông, chưa đề cập đến đội ngũ sức lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Sở dĩ như vậy bởi họ có quyền bán sức lao động, song chưa có sự ràng buộc nào về kinh tế. 

 

     Việc nghiên cứu sức lao động để phát triển thị trường sức lao động, còn đặt ra một vấn đề quan trọng đến việc hình thành giá cả trên thị trường sức lao động. Nhà kinh tế học William Petty khi phân tích về thị trường sức lao động trong buổi đầu của kinh tế thị trường, với nền kinh tế chưa phát triển, trình độ lao động thủ công là chính, ông cho rằng “ Tiền lương là những tư liệu sinh hoạt vật chất tối thiểu cần thiết đối với người công nhân, tiền lương cao công nhân thích uống rượu hay nghỉ việc”. Lý giải vấn đề này cho thấy giai đoạn đầu nền kinh tế trình độ sức lao động thấp, ngành nghề chưa phát triển, việc làm là nhân tố tối cần thiết và quan trọng đối với người công nhân. Những nhu cầu cơ bản tối cần thiết chỉ là những tư liệu sinh hoạt vật chất, chưa đề cập các tư liệu sinh hoạt về mặt tinh thần. Thị trường sức lao động Việt Nam trong những năm qua cũng đang ở trong giai đoạn như vậy. Người lao động ở nông thôn trong quá trình đô thị hóa dẫn đến lao động dư thừa, lao động nông nghiệp chủ yếu là lao động thủ công, chưa qua đào tạo ngành nghề thì mức lương chỉ cần tối thiều đủ sống, cao hơn lao động trong  nông nghiệp là họ có thể chấp nhận được. Hơn nữa với đặc trưng trong lĩnh vực nông nghiệp thời gian gián đoạn lao động  tương đối dài; lao động nông nhàn dẫn đến nam, nữ thanh niên ra thành thị tìm kiếm việc làm ngày càng nhiều là điều không tránh khỏi, thị trường sức lao động đang ở dạng sơ khai chưa phát triển, tương ứng với chất lượng lao động như vậy.

 

     Song đến giai đoạn công trường thủ công yêu cầu sức lao động không chỉ là những tư liệu sinh hoạt tối thiểu, theo quan điểm của nhà kinh tế học Adam Smith, tiền lương là những tư liệu sinh hoạt của người công nhân và con của anh ta. Đặc điểm cơ cấu tiền lương trong giai đoạn này thể hiện theo yêu cầu của việc phát triển của thị trường sức lao động. Bên cạnh người lao động đòi hỏi về nhu cầu vật chất,  con người còn đòi hỏi cả nhu cầu tinh thần. Tiển lương phải đảm bảo để sản xuất và tái sản xuất sức lao động của người công nhân, trong đó bao gồm cả chi phí đào tạo người công nhân, là nhân tố yêu cầu quan trọng để tái sản xuất sức lao động . Đề cập nhân tố này để thấy rõ trong kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam phần chi phí nuôi sống người công nhân và chi phì đào tạo người công nhân là hai vấn đề liên quan đến thị trường sức lao động. Bởi nếu người công có được sức lao động như vậy thì ai sẽ trả chi phí ấy; nếu các chi phí ấy do người công nhân tự bỏ ra; hay nói cách khác phải tính tiền lượng ra sao cho tương xứng với sức lao động đã được nuôi dưỡng và `đào tạo. Một đặc trưng nổi bật bản chất nền kinh tế mà chúng ta xây dựng, Nhà nước bao cấp khá nhiều, với bản chất tốt đẹp cho người lao động, nhưng sau khi được đào tạo từ các cơ sở Nhà nước, các thành phần kinh tế khác sử dụng, thì hiệu quả kinh tế của vấn đề này như thế nào? đó là những câu hỏi đuợc đặt ra trong thị trường sức lao động mà chúng ta cần giải quyết.

 

     Nhà kinh tế học Adam Smith khi phân tích tiền lương ông còn cho rằng tiền lương bao gồm cả việc nuôi sống con của người công nhân. Sở dĩ ông đặt vấn đề như vậy, vì nếu tiền lương không có phần chi phí để nuôi con thì khi người công nhân không còn khả năng lao động sẽ không có sức lao động thay thế trên thị trường lao động. Đây là những vấn đề cần nghiên cứu khi xác định giá cả sức lao động trên thị trường sức lao động, nhất là những công nhân gắn bó với doanh nghiệp của mình trong thời gian dài là những nhân tố cần phải tính đến. Còn quan điểm tiền lương của Adam Smith là tiền lương cao. Ông xác định tiền lương cao trên hai nghĩa, nghĩa thứ nhất trước mắt, ông cho rằng tiền lương cao là nguồn khuyến khích động viên người lao động rất lớn, làm cho người lao động hăng say tích cực lao động hơn so với những nơi trả tiền lương thấp. Về lâu dài ông cho rằng người công nhân bao giờ cũng hy vọng có phần dư dật lúc tuổi già; do đó nếu doanh nghiệp trả lương cao thì công nhân sẽ gắn bó hơn với doanh nghiệp, sẽ không có sự di chuyển lao động từ nơi này sang nơi khác. Đây chính là những căn cứ liên quan đến xác định giá cả sức lao động trên thị trường lao động.

      Quan điểm tiền lương của nhà kinh tế học David Ricardo, có cách nhìn rộng hơn so với Adam Smith khi xác định về cơ cấu tiền lương; ông cho rằng tiền lương là những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người công nhân và gia đình của anh ta. Quan điểm này cho thấy khái niệm gia đình khi xác định tiền lương (giá cả sức lao động) được mở rộng hơn nhiều, gia đình là tế bào kinh tế của xã hội, gắn với mỗi giai đoạn phát triển khác nhau, tiền lương khác nhau, mỗi địa phương khác nhau tiền lương khác nhau (giá cả hàng hóa sức lao động khác nhau); tiền lương tùy thuộc vào cung cầu của lao động. Những căn cứ này là những tiêu chí để xác định tiền lương trên thị trường sức lao động hiện nay ở Việt Nam. Đối với quy luật tiền lương David Ricardo lại cho rằng tiền lương tối thiểu; bằng phương pháp phản chứng để ông xác định tiền lương tối thiểu. Theo ông tiền lương cao đời sống sung túc dẫn đến sinh đẻ nhiều, mức sống cũng cao sẽ dẫn đến chết ít; điều này tất yếu làm tăng cung lao động. cạnh tranh gay gắt giữa những người lao động; người lao động muốn sống, muốn tồn tại phải có việc làm cho nên lương thấp cũng phải làm và do vậy tiền lương chỉ nên mức tối thiểu.

      Karl Marx nhà kinh tế học kiệt xuất trong lịch sử dựa trên quan điểm tiền lương của các nhà kinh tế học, ông phân tích và làm sáng tỏ bản chất của tiền lương là giá cả hay giá trị sức lao động chứ không phải giá cả của lao động. Đây là một quan điểm đúng đắn nhằm xác định tiền lương trả theo đúng giá cả hay giá trị sức lao động. Luận điểm này thể hiện khi xác định tiền lương phải dựa trên cơ sở sức lao động lao động cả về thể chất và tinh thần, kiến thức kỹ năng được đào tạo để có sức lao động cho quá trình lao động. Karl Marx đã xác định rất rõ trong cấu trúc tiền lương bao gồm ba bô phận: một là, chi phí nuôi sống người công nhân; hai là, chi phí đào tạo người công nhân và ba là, chi phí nuôi sống gia đình người công nhân. Việc phân định rõ các bộ phận cấu thành tiền lương của Karl Marx có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá cả sức lao động trên thị trường sức lao động.

      Như vậy việc nghiên cứu loại hàng hóa đặc biệt, hàng hóa sức lao động trên thị trường sức lao động, có ý nghĩa quan trọng và cần thiết; bởi lẽ đây là cơ sở để xác định giá cả hàng hóa sức lao động trên thị trường sức lao động trong điều kiện nền kinh tế nước ta cũng như ở Bình Dương; nhất là trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần, trình độ sức lao động không đều, được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau, thấy được “vẻ đẹp” đa dạng của thị trường sức lao động khác với các thị trường hàng hóa thông thường.

      Đương nhiên, nhân tố cốt lõi của phát triển thị trường sức lao động là hàng hóa sức lao động. Hàng hóa sức lao động càng đa dạng về chủng loại, càng phong phú thì thị trường sức lao động càng phát triển, càng đáp ứng được nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế phân công lại lao động xã hội, phát triển ngành nghề và nhất là ngày nay khi phân công lao động xã hội đã vượt khỏi phạm vi quốc gia và trở thành quốc tế.

     Phát triển thị trường sức lao động không chỉ đơn thuần về số lượng và chủng loại phong phú mà còn là phẩm chất của loại hàng hóa này. Do đó, đây là thị trường sức lao động, chứ không phải thị trường lao động, vấn đề này chỉ có thể đạt được khi tiền tệ hóa hàng hóa sức lao động nghĩa là phải tính đúng, tính đủ trong giá trị sức lao động, và tất yếu hàng hóa sức lao động cũng được thương phẩm hóa. Trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, thương phẩm hóa sức lao động là tiền đề chuyển hóa tiền tệ thành tư bản, là cơ sở của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Ở Việt Nam chuyển sang kinh tế thị trường và phát triển kinh tế thị thị trường, đương nhiên sức lao động là hàng hóa.  Sự phát triển của sức lao động xã hội và nhu cầu kinh tế hàng hóa tạo thành đối với hàng hoá sức lao động, việc nâng cao giá cả hàng hóa sức lao động dẫn đến nảy sinh các biến động như “xuất ngoại” đi đến các tỉnh khác tìm việc, buộc người lao động phải học tập kỹ thuật, học tập kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, tìm tòi lượng thông tin phong phú để có được sức lao động mới mong tìm được việc làm. 

 

     Thực tiễn cho thấy sự khác nhau về kinh tế, về thu nhập, việc làm và điều kiện sống ở nhiều vùng quê Việt Nam, dẫn đến nhiều địa phương cho phép người lao động từ những vùng tương đối lạc hậu, người lao động thu nhập tương đối thấp tiến vào thị trường sức lao động, bán sức lao động. Đặc trưng nổi bật của kinh tế thị trường đó là từ chỗ kinh tế vận hành theo quỹ đạo kinh tế phi hàng hóa sang quỹ đạo kinh tế hàng hoá. Người lao động trong cơ chế kế hoạch hóa từ hoạt động theo kế hoạch tự giác, nhà nước tổ chức quản lý đào tạo, sau đó giao cho các tổ chức kinh tế trên cơ sở điều động, biên chế cho các tổ chức kinh tế nhà nước hoặc tập thể chi phối, chuyển thành người lao động đem sức lao động, coi như hàng hoá bán cho các xí nghiệp. Cơ chế ấy đã làm cho sức lao động chưa được khơi dậy, chưa phát huy hết khả năng, chưa phải là hàng hóa thực sự, thì việc tự rèn luyện, học tập, nâng cao trình độ tay nghề sẽ chưa được chú trọng đúng mức.

 

     Chính vì lẽ đó thương phẩm hóa hàng hóa sức lao động có ý nghĩa quan trọng trong kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường đặc biệt đối với Việt Nam. Thương phẩm hóa hàng hoá sức lao động điều này được thực hiện theo hai hướng việc tuyển chọn giữa người lao động với xí nghiệp, nghĩa là người lao động được tuyển chọn nơi làm việc theo khả năng sức lao động, đồng thời đối với các doanh nghiệp tuyển chọn sắp xếp sử dụng sức lao động gắn với đặc trưng vị trí, nghề nghiệp yêu cầu đòi hỏi trong phạm vi doanh nghiệp

      Vấn đề quan trọng khi sức lao động trở thành hàng hóa đòi hỏi khi tính giá trị sức lao động, đó là quyền sở hữu sức lao động phải thuộc về sở hữu cá nhân người lao động. Bởi quyền sở hữu sức lao động của người lao động là nhân tố quyết định sức lao động trở thành hàng hóa, đến việc bán sức lao động. Bởi đặc trưng hàng hóa sức lao động chỉ bán quyền sử dụng chứ không bán quyền sở hữu. Đây là một trong những vấn đề phức tạp mà chúng ta không thể giải quyết ngay trong một thời điểm cụ thể do liên quan đến con người đến chi phí nuôi dưỡng, chi phí đào tạo để có được sức lao động; do nó có phần liên quan đến gia đình và phần liên quan đến xã hội. Trong các hội thảo khoa học chúng ta đã đề cập chỉ riêng dưới hình thức đào tạo là trường công thì Nhà nước bỏ chi phí đào tạo sức lao động, thì nhà nước sẽ được sử dụng như thế nào, chi phí này được tính ra sao; sức lao động được đào tạo ở trường tư thì quyền sở hữu chắc đã rõ. Đây là một trong những nội dung cần giải quyết đối với hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động.

 

3. Những vấn đề cần giải quyết 

 

     Việc phát triển hàng hóa sức lao động và thị trường sức lao động ở Bình Dương không chỉ là triển khai thực hiện đưa nghị quyết Đại hội Đảng XI đi vào cuộc sống, mà còn là thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Dương, là thúc đẩy kinh tế Bình Dương phát triển. Dưới góc độ của một hội thảo khoa học phát triển thị trường sức lao động của tỉnh Bình Dương, chúng tôi xin đề xuất các giải pháp sau đây:

      Một là,  phát triển hàng hóa sức lao động:

      Đây là giải pháp đầu tiên, giải pháp quan trọng nhất đối với phát triển thị trường sức lao động, bởi lẽ nếu không có hàng hóa sẽ không có thị trường. Do đó việc phát triển nguồn lực lao động nhân tố quyết định sự phát triển của thị trường, cung cấp cho sự phát triển kinh tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc phát triển hàng hóa sức lao động phải đảm bảo được mấy tiêu chí sau đây:

 

     Về thể chất, phải có kế hoạch nâng cao chất lượng dân số đối với cả nước nói chung cũng như tỉnh Bình Dương nói riêng. Để đạt được tốc độ cao phát triển đất nước phải phấn đấu đạt được số người lao động trong thời kỳ dân số vàng lớn gấp 2 lần tỷ lệ người già và trẻ em. Liên quan trực tiếp đến chất lượng dân số, chất lượng nguồn lao động là chỉ số phát triển con người (HDI) ở nước ta vẫn còn ở mức thấp; tỷ lệ trẻ em thừa cân, rối nhiễu tâm trí, tự kỷ ngày một tăng; tầm vóc, thể lực con người Việt Nam còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lao động sau này. Đặc biệt là chiều cao, cân nặng và sức bền còn thấp xa so với nhiều nước trong khu vực. Tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân, nạo phá thai, lạm dụng chất gây nghiện như thuốc lá, rượu bia ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên có xu hướng gia tăng, những vấn đề căng thẳng về tâm lý ngày càng trở nên nghiêm trọng đối với giới trẻ,... Đây chính là những nhân tố cản trở cần được giải quyết liên quan đến thị trường sức lao động năm 2020.

 

     Việc đối phó với dân số già đến năm 2020 là những thách thức cần giải quyết dân số Việt Nam đang trong quá trình già hóa, số lượng người cao tuổi ngày càng tăng. Năm 2009, số người già từ 60 tuổi trở lên chỉ bằng một phần ba số trẻ em dưới 15 tuổi. Theo dự báo của Ủy Ban dân số, kế hoạch hóa gia đình sau 20 năm nữa (2030) số người già sẽ ngang bằng với số trẻ em. Đến năm 2047, số người già sẽ bằng 1,5 lần số trẻ em; đến cuối những năm 60 của thế kỷ này thì số người già sẽ gấp đôi số trẻ em. Sự mất cân bằng về giới tính cũng đang là một vấn đề bức xúc, sự già hóa trong tương lai về dân số sẽ dẫn đến mất cân đối trong nguồn cung lao động. Theo Ủy ban Dân số, kế hoạch hóa gia đình số người từ 60 tuổi trở lên sẽ tăng rất nhanh trong thời gian tới, quy mô gia đình sẽ nhỏ lại, tỷ lệ sống độc thân càng gia tăng, nhất là phụ nữ. Khi đó các chính sách an sinh xã hội, bảo hiểm, hưu trí,... phải tăng chi cho phù hợp với xu hướng biến đổi của dân số và ngược lại thị trường sức lao động cũng sẽ giảm tương ứng, khó khăn cho sự phát triển kinh tế trong tương lai.

 

     Hơn thế, sự tác động của cơ cấu dân số ảnh hưởng đến thị trường sức lao động xu hướng già hóa dân số ở nước ta ngày càng thể hiện rõ nét và đang đứng trước ngưỡng cửa này. Vì thế, giải pháp cho sự phát triển thị trường sức lao động từ Trung ương đến cơ sở, tỉnh Bình Dương cần có kế hoạch dài hạn, chủ động với xu thế già hóa dân số đang phát triển nhanh. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hàng hóa sức lao động, đến phát triển thị trường sức lao động, nghĩa là giải quyết vấn đề này ở Bình Dương không thể tăng dân số tự nhiên mà phải tăng cơ học.

      Do đó việc khảo sát của đề tài về lứa tuổi, giới tính, trình độ, tăng cơ học về số lượng người lao động. Dự đoán từ nay đến năm 2020 về nguồn lao động đối với laoi hình doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, liên doanh với nước ngoài để có chiến lược phát triển hàng hóa sức lao động là hết sức cần thiết. 

      Hai là, phát triển thị trường sức lao động:

      Muốn phát triển thị trường sức lao động cần phải có kế hoạch dự báo nguồn nhân lực cho thị trường sức lao động. Trong điều kiện hiện nay ở Bình Dương việc dự báo nguồn nhân lực, nhân tố cốt lõi của thị trường sức lao động chưa thật chặt chẽ, chính xác; do vậy chưa đáp ứng được những nhu cầu trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhu cầu của các cơ quan quản lý, nhu cầu của các đơn vị đào tạo, cũng như nhu cầu của đơn vị sử dụng nguồn lao động đến năm 2020.

 

     Chính vì lẽ đó, để giải quyết tốt vấn đề này, ngành thống kê của tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với sở kế hoạch đầu tư, sở giáo dục đào tạo, sở lao động thương binh xã hội… thu thập số liệu, các dữ liệu một cách đồng bộ, trên cơ sở đó dự báo nhu cầu nhân lực cho tiến trình phát triển kinh tế của tỉnh.

      Việc dự báo nhu cầu nhân lực của tình cần phải đảm bảo được các tiêu chí về thực trạng sức lao động, thực trạng lao động việc làm, cơ cấu các loại hình doanh nghiệp, cơ cấu sử dụng nguồn lao động theo yêu cầu phát triển ngành nghề. Trên cơ sở đó có dự báo cho thời gian tới về các điều kiện liên quan đến việc làm như điều kiện ăn, ở, sinh hoạt, phương tiện đi lại, vấn đề an sinh xã hội…Đây là những thông tin cần thiết và là cơ sở dữ liệu trong giao dịch trên thị trường sức lao động.

      Cần phải có kế hoạch cụ thể, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ban ngành của tỉnh khảo sát nhu cầu cụ thể của từng doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khảo sát tiền lương của các doanh nghiệp tư nhân trên cơ sở đó đặt ra yêu cầu đối với doanh nghiệp, xác định mục tiêu khách hàng của mình là ai, để xây dựng tiêu chí hoạt động cho phù hợp với doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.

     Thị trường sức lao động chỉ có thể phát triển trên cơ sở phát triển hàng hóa sức lao động. Để thị trường sức động phát triển phải nâng cao chất lượng sức lao động, đa dạng hóa chủng loại hàng hóa thì mới đa dạng thị trường.

 

     Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, nền kinh tế nhiều thành phần; Bình Dương không là một ngoại lệ, đòi hỏi cần phải có các loại thị trường tương ứng, thị trường sức lao động cho các thành phần kinh tế, bởi mỗi thành phần kinh tế có yêu cầu riêng, có đặc điểm riêng. Mỗi một thành phần kinh tế có một thị trường sức lao động tương ứng. Thị trường sức lao động cho thành phần kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế liên doanh…

      Tiến tới hình thành phát triển các thị trường chuyên ngành gắn với từng loại trình độ sức lao động, từng ngành nghề theo yêu cầu của phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh. Thành lập trung tâm dự báo Palmi, hay trung tâm giới thiệu việc làm. Hiện nay có quan điểm cho rằng năm nhiệm vụ của trung tâm này gần như trùng lắp với trung tâm giới thiệu việc làm.

      Chú trọng phát triển thị trường sức lao động, bởi đây là nơi gặp gỡ giữa khách hàng và chủ hàng, phải tạo sự chú ý đối với khách hàng trong đó dự báo nguồn sức lao động đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định nguồn nhân lực cũng như định hướng cho các đơn vị đào tạo, định hướng nghề nghiệp cho các loại lao động cần sử dụng trong tương lai theo yêu cầu phát triển của thị trường sức lao động.

     

      Ba là, các chính sách kinh tế của nhà nước:

 

     Để phát triển thị trường sức lao động trên cả nước nói chung và Bình Dương nói riêng, tỉnh Bình Dương phải xây dựng các nội dung liên quan đến phát triển thể lực tầm vóc, kết hợp, lồng ghép với các chương trình. Ủy Ban nhân dân tỉnh, sở Y tế, sở Giáo dục cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu, chỉ số đánh giá hiệu quả, xác định các tiêu chí phát triển thể lực, tầm vóc bảo đảm căn cứ khoa học, cho thị trường sức lao động đến năm 2020 phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

      Tuyên truyền vận động, giáo dục nhân dân nâng cao ý thức, hiểu rõ vai trò quan trọng của công tác dân số, hình thành phong trào phấn đấu cải thiện, nâng cao thể lực, tầm vóc trong cộng đồng xã hội, đề cao vai trò và trách nhiệm của tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong công tác tuyên truyền, vận động thực hiện các mục tiêu phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam và của tỉnh Bình Dương. Phát huy vai trò lãnh đạo của Ủy ban nhân dân các cấp trong việc triển khai thực hiện các mục tiêu về dân số, cơ cấu nguồn lao động. Có cơ chế sử dụng các công trình thể dục thể thao trên địa bàn phục vụ cho hoạt động giáo dục thể chất trong trường học (chính khóa và ngoại khóa); bổ sung chức năng hỗ trợ giáo dục thể chất ở các trường học cho các cơ sở tập luyện, thi đấu của ngành thể dục, thể thao ở các cấp, làm căn cứ, cơ sở  xây dựng, quy hoạch phát triển cơ sở vật chất ngành thể dục thể thao đến năm 2020.

     Các chính sách liên quan đến thị trường sức lao động, Nhà nước cần quy định các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương theo chất lượng lao động, của từng ngành nghề, đặc điểm điều kiện, môi trường lao động để người lao động và người sử dụng lao động có cơ sở xác định tiền lương, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra để đảm bảo quyền lợi của người lao động. Hoàn thiện môi trường pháp lý, gắn cải cách tiền lương với cải cách kinh tế, tạo sự gắn kết đồng bộ giữa các loại thị trường để thúc đẩy nhau phát triển lành mạnh. Đẩy mạnh hoạt động tư pháp, củng cố cơ quan bảo vệ luật pháp, thực hiện nghiêm túc công tác điều tra, thanh tra và xét xử nghiêm minh, tạo môi trường lành mạnh cho phát triển thị trường sức lao động.

      Tăng cường sự quản lý và giám sát của Nhà nước đối với thị trường sức lao động. Nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động của thị trường này. Xử lý tốt các trường hợp tranh chấp, bảo đảm lợi ích chính đáng của người lao động và người sử dụng lao động. Tạo cung lao động đáp ứng thị trường về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề, đặc biệt là tỷ lệ lao động đã qua đào tạo. Tăng cầu lao động thông qua phát triển kinh doanh sản xuất dịch vụ trong các thành phần kinh tế.

 

         Thay cho lời kết

 

     Việc phát triển thị trường sức lao động trên địa bàn tỉnh Bình Dương là một yêu cầu cấp thiết. Bởi tỉnh muốn phát triển phải đầu tư, chúng ta không chỉ đầu tư về giá trị mà còn phải đầu tư về mặt hiện vật. Đặc biệt đầu tư về mặt hiện vật có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, trong đó cốt lõi nhất là đầu tư phát triển nguồn nhân lực, đầu tư phát triển thị trường sức lao động, Lãnh tụ thiên tài V.I. Lenin đã khẳng định: “ Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là người công nhân là người lao động”.

      Việc phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn hàng hóa sức lao động nhân tố cốt lõi cấu thành thị trường sức lao động, phát triển thị trường sức lao động, những chính sách kinh tế liên quan của Nhà  nước, của tỉnh Bình Dương để phát triển thị trường sức lao động là hết sức cần thiết là nội dung quan trọng trong việc thực hiện các chính sách kinh tế xã hội của tỉnh là đưa nghị quyết Đại hội Đảng XI đi vào cuộc sống của tỉnh Bình Dương. 

 

 

Cùng danh mục

Các dự án nổi bật
Đơn vị thành viên


Hotline
+8408 38 724 054
+84 90 300 4236
Hỗ trợ Online
LIÊN HIỆP KHOA HỌC KINH TẾ - KỸ THUẬT - MÔI TRƯỜNG MIỀN NAM

Trụ sở chính: Địa chỉ: Quốc lộ 13, Đông Nhì, Phường Lái Thiêu, Thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương
Điện thoại: 0650 757 910  - Fax: 0650 759 255

Văn phòng đại diện: Địa chỉ: 107/9C, Huỳnh Tấn Phát, KP2, P. Tân Thuận Tây, Q.7, TP.HCM
Điện thoại: 08 38 724 054  - Fax: 08 62 621 224 - Di động: 090 300 4236

Website
: www.setesu.vn
Bản quyền 2010 © Liên hiệp Khoa học Kinh tế - Kỹ thuật - Môi trường Miền Nam (SETESU)