|
Ý kiến của Tiến sĩ khoa học Phạm Đình Trung
Tổng Giám đốc - Liên hiệp Khoa học KT - KT - MT Miền Nam
1.
Chính sách
phát triển thị trường của Singarpore
Singarpore là một quốc gia nhỏ với diện
tích đất đai chỉ có 641 km2, dân số tới nay khoảng 3 triệu người.
Singarpore tuyên bố độc lập từ năm 1959. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu,
khi mới giành độc lập, nền kinh tế Singarpore vô cùng ốm yếu, dân số khoảng 1,4
triệu người với mức thất nghiệp tăng
cao, điều kiện nhà ở thật kinh khủng 1.
Các nhà lãnh đạo Singarpore nhận định rõ
với qui mô nhỏ như vậy, nền kinh tế này không thể tồn tại dựa vào nông nghiệp,
công nghiệp nặng và thị trường nội địa. Sự sống còn của nền kinh tế này buộc
phải hướng ra thế giới và thị trường quốc tế.
Chính phủ Singarpore đã thông qua chiến
lược công nghiệp hóa bằng cách thu hút đầu tư nước ngoài với mức thuế khuyến khích, phát triển cơ sở hạ
tầng, hoàn thiện pháp luật thúc đẩy phát triển các quan hệ công nghiệp. Chiến
lược này đã đem lại những thành công lớn. Trong vòng 10 năm Singarpore đã tiến
triển từ tình trạng thất nghiệp cao sang tình trạng thiếu hụt lao động. Điều
này đã tạo ra áp lực tăng mức lương rất nhanh. Để giảm bớt sự căng thẳng của
thị trường lao động chính phủ Singapore
đã thực thi một số chính sách. Những cải cách ngoạn mục của Singarpore trong
suốt thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX đã đem lại những thành công
lớn, Singarpore trở thành nước công nghiệp mới ở châu Á.
Theo đánh giá của nhiều tổ chức kinh tế
trên thế giới, ngày nay một trong những
tài sản quý giá nhất giúp cho Singarpore phát triển và tiếp tục phát triển
chính là phát triển thị trường lao động. Vậy Singarpore đã làm gì để hình thành
và phát triển thị trường lao động của mình?
Có hai nhóm chính sách đã đem đến sự phát
triển mạnh mẽ thị trường lao động tại Singapore. Lực lượng lao động của Singapore nhờ
vậy mà phát triển trên cả hai khía cạnh: số lượng và chất lượng. Đó là:
-
Thứ nhất, quản lý lao động nhập cư;
-
Thứ hai, chính sách quản lý đào tạo.
2.
Chính sách
nhập cư của Singapore:
Việc quản
lý lao động nhập cư tại Singapore
hiện nay dựa trên những quy định về Luật nhập cư dưới dạng giấy phép làm việc.
Có 4 loại giấy phép để quản lý cả về số lượng và chất lượng lao động nhập cư.
Một giấy phép được cấp cho một công ty cụ thể theo yêu cầu của chủ doanh
nghiệp. Đơn xin giấy phép phải ghi rõ người
lao động nước ngoài được thuê
trong tương lai xuất xứ từ đâu, công việc họ làm phải được miêu tả đầy đủ và có
thời hạn lao động. Số lượng giấy phép được cấp là có giới hạn cho các chủ doanh
nghiệp. Giới hạn này phụ thuộc vào tỷ lệ giữa người lao động nước ngoài với người
lao động Singapore.
Tỷ lệ này do chính phủ đưa ra cho tất cả các doanh nghiệp theo lĩnh vực. Bốn
loại giấy phép đó là:
-
Giấy phép cho công nhân không lành nghề (Work
permit for unskilled workers);
-
Giấy phép cho công nhân lành nghề(Work
permit for skilled workers);
-
Giấy phép hành nghề (employment pass);
-
Giấy được phép nhập cư và tái nhập cư
(entry/ re-entry permit).
Lao động không lành nghề là những người có
mức lương cao nhất dưới S$ 2000 sẽ có đủ tư cách để có được giấy phép làm
việc.Thời hạn làm việc có thể kéo dài 2 năm, nếu được gia hạn thêm có thể lên
tới 4 năm. Phí hàng tháng người lao động phải đóng là S$ 330, áp dụng cho lĩnh
vực dịch vụ và lao động giản đơn ở cảng, lao động trong gia đình và những doanh
nghiệp có tỉ lệ thuê người nước ngoài dưới 40%. Đối với những doanh nghiệp có
tỉ lệ thuê người nước ngoài từ 40% - 50% thì phí hàng tháng công nhân phải trả
là S$400, và cao nhất là phí đối với công nhân xây dựng S$ 470/tháng. Các chủ
doanh nghiệp được yêu cầu phải đóng S$5000/công nhân cho phí an sinh xã hội để
bảo đảm sự hồi hương khi người lao động hết hạn giấy phép. Những hạn chế bổ
sung nhằm ngăn chặn sự định cư của lao động nước ngoài không lành nghề là: cấm
tham gia công đoàn, cấm hội họp, cấp kết hôn với người Singapore, cấm
mang thai. Người lao động phải rời Singapore trong vòng 7 ngày kể từ
khi hết hạn giấy phép, nếu không sẽ bị trục xuất. Theo qui định thì tỉ lệ lao
động nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ là 1:3 (1 người lao động nước ngoài, 3
người lao động là công dân Singapore); trong lĩnh vực sản xuất thì tỉ lệ là 1:1
nhưng trong các doanh nghiệp bốc xếp ở cảng thì tỉ lệ này lên tới 9:1.
Đối với lao động nước ngoài có tay nghề, những người có mức lương hàng tháng
dưới $2000 thì có đủ tư cách nhận giấy phép làm việc trong thời hạn 3 năm, và
có thể gia hạn thêm tới 10 năm. Những lao động này làm việc trong các lĩnh vực
như xây dựng, hàng hải, lao động tay chân ở cảng. Tùy từng lĩnh vực mà có tỉ lệ
lao động nước ngoài tại các doanh nghiệp đối với lao động có tay nghề. Các chủ doanh
nghiệp cũng phải đóng phí an sinh cho người lao động và mỗi lao động phải nộp
phí giấy phép là S$ 200/ tháng đối với doanh nghiệp hàng hải và lao động ở
cảng, S$ 100/tháng đối với lĩnh vực xây dựng. Người lao động lành nghề đủ tư
cách định cư và không bị giới hạn quyền tự do cá nhân.
Những lao động lành nghề có bằng cấp
chuyên nghiệp được thuê với mức lương vượt quá S$2000/ tháng có quyền được nhận
giấy phép hành nghề. Giấy phép này có giá trị tới 5 năm, có thể gia hạn thêm.
Sau khi yêu cầu đóng S$ 5000 phí an sinh, những người này có đủ tư cách định cư
sau 6 tháng. Người ta không áp dụng tỉ lệ lao động nước ngoài đối với loại lao
động này, không giới hạn quyền tự do cá nhân và được miễn phí khi cấp giấy phép
hành nghề.
Những lao
động nước ngoài định cư và tái định cư là những người có giấy phép hành nghề,
đủ tư cách định cư lâu dài có thể được cấp giấy phép nhập cư và tái nhập cư tới
5 năm và có thể làm mới. Cũng đủ tư cách để được cấp giấy phép này là những
nhân viên lành nghề chuyên nghiệp của các công ty nước ngoài quyết định tái
định cư tại Singapore.
Các giấy phép nhập cư và tái định cư cũng có thể cấp cho các nhân viên của các
công ty đáp ứng một số tiêu chuẩn đầu tư vốn tối thiểu. Để khuyến khích sự hội
nhập của những lao động có kỹ năng thỏa đáng vào trong lực lượng lao động,
Singapore thực hiện không thu phí an sinh, miễn phí xin giấy phép và những dịch
vụ tạo điều kiện định cư được cung cấp bởi Ban dịch vụ hội nhập xã hội. Những
khuyến khích bổ sung cho việc định cư lâu dài gồm: trợ cấp y tế, giáo dục và
nhà ở. Hơn nữa các công dân định cư đủ tư cách để nhập quốc tịch Singapore sau
một thời gian từ 2 – 10 năm.
Chính sách nhập cư của Singapore thực
sự đã tiến triển theo thời gian và chứng tỏ được tính linh hoạt để phù hợp với
sự biến động của nền kinh tế. Sự quản lý lao động nhập cư của Singapore được
chia làm 3 giai đoạn từ 1965, mỗi giai đoạn có những mục tiêu chính sách khác
nhau. Giai đoạn đầu là thời kỳ thiếu hụt lao động
trầm trọng và một cú nhảy lớn về lao
động nhập cư từ nước ngoài, nhất là từ Malayxia. Lúc này giấy phép làm việc
được đưa ra kèm theo tiền thuế của lao động nước ngoài trong lĩnh vực xây dựng.
Sự nhập cư cũng được mở rộng đối với những quốc gia khác như Bangladesh, Ấn độ, Srilanca, Philipine,
Thailand, Indonesia.
Những giấy phép cũng được mở rộng đối với lao động làm việc trong gia đình để
tạo điều kiện cho phụ nữ Singapore
tham gia lực lượng lao động.
Thời kỳ thứ hai bắt đầu từ 1981, với thông báo về chính
sách là những người lao động nước ngoài sẽ kết thúc hoàn toàn trước 1986 đối
với lao động đến từ các nước không truyền thống như Bangladesh, Ấn độ,
Srilanca, Philipine, Thailand, Indonesia, ngoại trừ ngành xây dựng, đóng tàu,
dịch vụ gia đình. Điều này kèm theo những biện pháp về thuế đối với các lao
động nước ngoài không lành nghề và giới hạn hệ thống an sinh xã hội chỉ dành
cho lao động lành nghề. Trong cơn suy thoái kinh tế 1985 -1986, 102.000 công
việc bị hủy, 60.000 công nhân nước ngoài phải về nước. Một hệ thống thuế toàn
diện được thực thi vào năm 1987 và tỷ lệ lao động nước ngoài được đưa ra. (Số
lượng lao động nước ngoài bị giới hạn ở mức 50% trên tổng số lao động của doanh
nghiệp). Những biện pháp bổ sung để đảm bảo chính sách được thực thi là phạt
tiền, đánh đòn đối với những người ở lại quá hạn. Tiêu chuẩn để cấp giấy phép
hành nghề và định cư lâu dài được mở rộng vào năm 1989. Theo Luật lao động đối
với người nước ngoài năm 1990, các chủ doanh nghiệp mong muốn thuê người lao
động nước ngoài được yêu cầu phải xin giấy phép làm việc, ai vi phạm sẽ bị phạt
nặng hoặc bỏ tù.
Thời kỳ
thứ ba trùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ diễn ra suốt thập niên 90. Trong
giai đoạn này nhu cầu lao động nước
ngoài (cả hợp pháp và bất hợp pháp) của các chủ doanh nghiệp tăng mạnh.
Điều này một phần đã được tạo điều kiện bởi chính quyền đã làm dễ hơn các hạn
chế nhập cư: tỷ lệ lao động nước ngoài được mở rộng, tỷ lệ này ở lĩnh vực xây
dựng lên tới 5:1. Hệ thống thuế hai bậc được áp dụng trong lĩnh vực sản xuất,
theo đó đòi hỏi một khoản tiền trả thêm đối với mỗi lao động nước ngoài vượt
quá giới hạn qui định . Ví dụ: nếu doanh nghiệp có tỷ lệ lao động nước ngoài
dưới 35% thì tiền thuế mỗi lao động nước ngoài thuê thêm phải trả là S$
300/tháng; đối với doanh nghiệp có tỷ lệ lao động nước ngoài trong phạm vi từ 35% - 40% thì mức thuế
cho mỗi lao động thuê thêm là S$ 450/tháng. Điều này dẫn đến sự gia tăng dân số
không định cư. Cuối năm 1995 số lượng người nước ngoài lên tới nửa triệu người
trong đó 70% có giấy phép làm việc không lành nghề. Nhằm đáp ứng áp lực gia
tăng cạnh tranh quốc tế, một nỗ lực được dự tính đưa ra nhằm thu hút nhân tài,
những chuyên gia lành nghề có trình độ cao thông qua các khuyến khích bổ sung
như lợi ích về nhà ở. Một hệ thống phân phối giấy phép chặt chẽ hơn và những
biện pháp thực thi nghiêm khắc hơn đã được đưa ra và đem lại hiệu quả vào năm
1998, trong đó quyền cấp giấy phép chỉ được cấp cho các nhà thầu chính, những
người sẽ chịu trách nhiệm đối với lao động nước ngoài của những nhà thầu phụ.
Hơn nữa những nhà thầu chính được yêu cầu phải thuê lại các lao động làm việc
trong các hộ gia đình bị sa thải hoặc bị bỏ rơi bởi các nhà thầu phụ (nhưng
không áp dụng đối với các lao động phải hồi hương), nếu không thực hiện điều
này sẽ bị mất S$5000 phí an sinh xã hội đối với mỗi lao động và sẽ không được
đăng ký quyền cấp giấy phép trong tương lai. Vào tháng 3 năm 1998, các điều
chỉnh bổ sung được tiến hành để khuyến khích tăng năng suất lao động trong lĩnh
vực xây dựng thông qua việc tăng thuế đối với lao động không lành nghề ( từ
S$440 đến $470/tháng) và giảm thuế đối với lao động lành nghề (từ S$200 xuống
còn S$100/tháng). Sự chênh lệch này đã cung cấp những khuyến khích tốt hơn đối
với chủ doanh nghiệp để họ thuê những lao động có năng suất cao hơn.
Như vậy, quá trình hình thành chính sách
lao động nhập cư của Singapore diễn ra trong suốt 3 thập niên đã chứng tỏ khả
năng điều chỉnh môi trường kinh tế hiện tại bằng những mục tiêu ưu tiên mới
nhất. Ban đầu, Singapore tạo điều kiện cho dòng nhập cư đổ vào để đáp ứng nhu
cầu lao động, kế đến chính sách nhập cư được tiến triển để hạn chế dòng lao
động nhập cư một cách chặt chẽ hơn, nhưng cuối cùng nhu cầu thu hút lao động
lành nghề đã được nhận ra và được nắm bắt lấy. Những thay đổi chính sách này đã
đạt được một cách gián tiếp thông qua việc quản lý về giá để tạo sự thay đổi về
số lượng và kết cấu, đồng thời cũng đạt được một cách trực tiếp thông qua việc
hạn chế số lượng giấp phép được cấp. Sự phức tạp của hệ thống, đặc biệt trong
bối cảnh môi trường kinh tế thay đổi, đòi hỏi những điều chỉnh thường
xuyên, thận trọng và quản lý chặt chẽ.
Thực tế cho thấy, năm 1991 chính quyền Singapore đã đề nghị cải cách hệ thống
bằng cách áp dụng các giấy phép có thể chuyển nhượng mà giá của chúng sẽ được
quyết định thông qua cơ chế thị trường.
Hệ thống này được đề xuất bởi Bộ Lao động Singapore. Theo đó, hệ thống cho
phép chủ doanh nghiệp đấu thầu những giấy phép làm việc có thêm vượt trên tỷ lệ lao động nước ngoài quy định,
các giấy phép cũng được cấp trong thời hạn hai năm và mỗi lĩnh vực sẽ có hệ thống
và thị trường riêng để chuyển nhượng. Mặc dù có những lý lẽ ủng hộ cho hệ thống
này nhưng đề nghị này đã bị thu hồi do sự phản đối từ phía công đoàn (đang
hướng tới bảo vệ công ăn việc làm cho các thành viên) và các chủ doanh
nghiệp(sợ tình trạng không ổn định trong chi phí lao động và nguồn cung ứng lao
động).
Nói chung kinh nghiệm Singapore cho
thấy chính sách nhập cư và kinh tế vĩ mô đã bổ trợ cho nhau, bằng cách nào đó
cải thiện tính hiệu quả của cả hai. Những nhà làm chính sách đã quản lý nguồn
lao động nhập cư cùng chung với hoạt động của nền kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện
dễ dàng cho các yêu cầu về giấy phép để thu hút kỹ năng cụ thể hay xiết chặt
những yêu cầu để sa thải người lao động trong những cuộc suy thoái kinh tế. Họ
đã sử dụng nguồn lao động nhập cư như
cái giảm sốc để chống lại cú sốc lan rộng trong nền kinh tế. Mặt khác, sự thất
bại của cải cách chính sách bất thành về việc chuyển nhượng giấy phép đã chứng
tỏ vai trò tiềm năng của các quyền lợi được bảo đảm bất di bất dịch có quan hệ
đến chính sách nhập cư và nhu cầu về lao động. Những thành tích của Singapore đã
làm nổi bật sự quan trọng của một chính sách cẩn trọng và toàn diện mà không bị
hủy hoại bởi những lệch lạc đang diễn ra.
Những nhân tố phụ góp phần tạo nên sự
thành công của chính sách lao động nhập cư ở Singapore gồm: sự khác biệt về
tiền công giữa công dân Singapore và không phải là công dân Singapore, một số
biện pháp để kiểm soát số lượng và chất lượng lao động của người lao động nhập
cư, chính sách ưu tiên của Singapore đối với cá nhân đã làm tăng tính hiệu quả
của chính sách mặc dù phải chi trả cho các quyền lợi của cá nhân. Hệ thông giấy
phép liên quan tới việc cấp giấy phép mới cũng như việc làm lại giấy phép đòi
hỏi việc điều hành, thực thi và quản lý
hiệu quả. Phòng quản lý giấy phép và việc làm thuộc Bộ Lao động của Singapore giải
quyết hồ sơ đăng ký rất hiệu quả. Tốc độ trung bình là giải quyết hồ sơ chỉ
trong 3 ngày đối với việc đăng ký qua mạng, 7 ngày đối với những trường hợp
đăng ký khác.
Cấu trúc nền kinh tế cũng là một nhân tố
phụ tác động tích cực tới chính sách nhập cư. Chính sách của Singapore đã
cải thiện sự phát triển của khu vực tư nhân, khuyến khích đầu tư và sự tham gia
của nước ngoài với quan điểm cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Sản xuất của Singapore tập
trung cho xuất khẩu. Singapore
nhập khẩu công nghệ, lao động và hàng hóa trung gian. Mặc dù vai trò của khu
vực nhà nước là không thể thiếu nhưng chỉ giữ ở qui mô vừa phải ( ít hơn 18%
trong lĩnh vực sản xuất và 8% trong lĩnh vực dịch vụ ).
Như vậy, sự quản lý lao động nhập cư của Singapore có
được những thành công nhờ nhiều lý do chứ không chỉ bởi chính sách nhập cư hiệu
quả, tuy nhiên không phải mọi sự đều tốt đẹp. Những thiếu sót thể hiện ở sự tồn
tại của khu vực không chính thống của những người lao động nước ngoài bất hợp
pháp. Thực tế cho thấy việc thuê lao động nước ngoài trong khu vực không chính
thống đã tăng nhanh gần đây, xảy ra đồng thời cùng với việc mở rộng giới hạn về
lao động nhập khẩu hợp pháp. Những giới hạn và phí giấy phép làm tăng sự tuyển
dụng lao động bất hợp pháp, giả mạo giấy tờ cũng như buôn bán giấy phép bất hợp
pháp. Các công ty thuê lao động theo những hợp đồng không chính thức có thể trả
lương thấp hơn và ít quyền lợi hơn so với qui định của pháp luật và có thể áp
dụng những điều kiện làm việc khắc nghiệt hơn. Người lao động thì bất lực trong
việc khiếu nại vì sợ bị trục xuất. Hầu hết các bằng chứng cho thấy các chủ
doanh nghiệp giữ lại tiền thuê thêm nhờ tránh được trả thuế và trả lương cho
lao động bất hợp pháp dưới mức lương của lao động hợp pháp. Tuy nhiên cũng có vài bằng chứng cho thấy chủ
doanh nghiệp bù đắp lại cho người lao động bất hợp pháp khoản tiết kiệm này,
nhờ đó mà những người này có mức lương cao hơn người lao động hợp pháp.
Trong quá
trình phát triển, lực lượng lao động nước ngoài không chính thức đã chỉ ra rằng
các chính sách quản lý lao động ở Singapore còn thiếu sót trong quản lý nguồn
lao động nước ngoài, bộ phận lao động không chính thức này đã đóng góp một vai
trò không nhỏ trong những thành công của sự phát triển. Bộ phận lao động này
cũng rất năng động, linh hoạt tạo ra việc làm và tài sản mà có thể hình thành
những tiêu chuẩn tiền đề cho phát triển kinh tế. Nhiều nhà lý luận đã đề nghị
rằng dù có những bất lợi thì bộ phận lao động nước ngoài không chính thức không
thể được miêu tả mơ hồ là một thất bại của chính sách trong sự đóng góp vào sự
phát triển.
Khó khăn mà Singapore phải đương đầu trong quản
lý lao động nhập cư là tính toán giá cả và số lượng giấy phép làm việc trong hệ
thống kiểm soát nhập cư của họ. Hệ thống này được thực thi với sự giúp đỡ của
khả năng quản lý hành chính chất lượng cao, nhưng cũng kèm theo những biện pháp
hà khắc vi phạm quyền lợi cá nhân.
3.
Về chính
sách quản lý đào tạo nghề:
Nguyên lý chung trong phát triển kỹ năng
lao động của Singarpore là kỹ năng phát triển nhờ vào sự phát triển kinh tế.
Tại Singarpore, Nhà nước có vai trò điều
phối các kỹ năng. Do vị thế của mình nên Nhà nước thấy trước được đòi hỏi kỹ
năng trong tương lai tốt hơn các tư nhân. Do đó, Nhà nước sẽ đầu tư chiến lược
hoặc thông báo những nguồn đầu tư mang tính chất chiến lược lâu dài về nguồn
nhân lực.
Cách tổ chức của họ như sau: mọi kênh
truyền thông đều thông qua Bộ Công Thương, Hội đồng kinh tế, Hội đồng giáo dục
kỹ thuật và nghề nghiệp. Bộ Công thương có vị trí quan trọng hơn các bộ khác.
Người đại diện của Bộ Công Thương sẽ có mặt ở các ban và các hội đồng khác nhau
để đảm bảo quá trình thông tin trong nước có hiệu quả. Nhiệm vụ của Ban kinh tế
là đảm bảo nguồn đầu tư trong nước, sẵn sàng cấp vốn cho những ngành công
nghiệp mới. Ban này phải hiểu rõ những yêu cầu về nguồn nhân lực đối với ngành
công nghiệp đó, những kỹ năng cần có của ngành cùng với những yêu cầu về kỹ
năng mà các chủ doanh nghiệp hiện tại đòi hỏi sẽ hình thành nên những yêu cầu
kỹ năng quốc gia.Việc hình thành kỹ năng nghề quốc gia xuất phát từ những mục tiêu của các chính trị
gia liên quan tới hình thành các ngành công nghiệp mà họ muốn thu hút trong
tương lai.
Về mặt đào
tạo, các đơn vị giáo dục đào tạo sẽ đưa ra các dữ liệu về đầu ra hiện có và dự
kiến của họ. Sau đó Hội đồng kỹ thuật nghề nghiệp sẽ tiến hành đánh giá về
trình độ đầu ra cần thiết trong tương lai từ các đơn vị giáo dục đào tạo và xem
có cần thiết phải lấp đầy khoảng trống bằng cách tuyển thêm lao động lành nghề
ở nước ngoài. Đồng thời Hội đồng này sẽ thiết lập những mục tiêu cụ thể cho
những thành phần khác nhau của hệ thống giáo dục đào tạo.
Đối với mục tiêu đào tạo tại chỗ và đối
với mức độ đầu tư cho đào tạo của các doanh nghiệp được thiết lập bởi Hội đồng
tiêu chuẩn và năng suất. Trách nhiệm của Hội đồng này là đảm bảo các kỹ năng
của lực lượng lao động phải được cải thiện để đáp ứng những nhu cầu của công
nghiệp mới và hiện có, đảm bảo nguồn cung cấp lao động đủ để đáp ứng cho các
nhu cầu hiện tại và tương lai.
Yếu tố chính sách bổ sung tạo ra sự liên
kết giữa phát triển kinh tế và hình thành kỹ năng phải gần với quản lý tập
trung đối với hệ thống giáo dục đào tạo. Chính phủ kiểm soát và thực hiện một
hệ thống giáo dục quốc gia với tiếng Anh là ngôn ngữ chính. Chương trình học
chính về bản chất là mang tính học thuật nhưng học sinh được sắp xếp theo năng
lực nhằm hướng vào ít học thuật mà đi sâu vào giáo dục dạy nghề, giáo dục kỹ
thuật. Chương trình được kiểm soát chặt chẽ từ trung tâm để đảm bảo các môn cơ
bản có đầy đủ.
Qua nghiên cứu quá trình phát triển thị
trường sức lao động của Singapore cho thấy, với một chính sách điều tiết mềm
dẻo, đáp ứng nhu cầu trước mắt nhưng có định hướng cho tương lai, chỉ sau 3
thập niên thị trường sức lao động của Singapore đã phát triển mạnh mẽ, giờ đây
lực lượng lao động của Singapore được thế giới đánh giá và xếp hạng nhất về
chất lượng lao động bởi kỹ năng lao động, khả năng tiếng Anh, tính kỷ luật trong
lao động và sự năng động trên thị trường của người Singapore. Ngày nay, các nhà
nghiên cứu vẫn khẳng định rằng những thành công của chính sách điều tiết quản lý lao động nhập
cư, chính sách quản lý đào tạo, những chính sách hỗ trợ thực hiện phát triển thị
trường sức lao động của Singapore đã và đang dựa trên chính sách nền tảng, đem
lại sự phát triển vượt bậc cho Singapore đó là: chính sách trả lương khuyến
khích người lao động tích cực làm việc và chính sách chống tham nhũng triệt để
nhằm xây dựng một bộ máy cai trị trong sạch và hiệu quả.
4. Bài học kinh nghiệm đối với Bình Dương
trongquá trình phát triển thị trường sức lao động:
v
Đối với
chính sách lao động nhập cư:
Tuy diện tích, dân số, tình hình kinh tế
xã hội của Bình Dương hiện nay có nhiều điểm tương đồng với Singapore trong
thập niên 60 của thế kỷ XX, nhưng chính sách lao động nhập cư của Singapore
không thể đem áp dụng trực tiếp vào Bình Dương như xây dựng hệ thống giấy phép,
đánh thuế người lao động nhập cư, áp dụng những hình thức phạt… như Singapore
đã làm. Bình Dương là một tỉnh trong số 64 tỉnh thành của Việt Nam. Mọi qui
định, chính sách của tỉnh đều phải trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp, Pháp luật của
Nhà nước Việt Nam.
Theo đó, trên địa bàn Việt Nam,
các công dân Việt Nam
có quyền tự do cư trú, tự do làm việc ở bất cứ đâu mà pháp luật không cấm. Bởi
vậy lao động Việt Nam từ các tỉnh thành khác đến làm việc tại Bình Dương được
pháp luật Việt Nam bảo hộ, tỉnh không có quyền cấm đoán hay cho phép họ đến làm
việc tại tỉnh khi họ không có hành vi vi phạm pháp luật của Việt Nam. Lực lượng
lao động nhập cư là người nước ngoài đến làm việc tại Bình Dương là không đáng
kể. Do vậy, bài học đối với Bình Dương rút ra từ chính sách lao động nhập cư
của Singapore
là tính mềm dẻo trong chính sách để thu hút lao động nhập cư đáp ứng sự thiếu
hụt về lao động, khuyến khích lao động nhập cư có chất lượng lao động cao định
cư lâu dài. Tính mềm dẻo trong chính sách lao động nhập cư đòi hỏi Tỉnh phải ra
những quy định cụ thể, phù hợp với từng giai đoạn phát triển, nhưng tất cả
những quy định đó đều hướng vào việc sử dụng lực lượng lao động nhập cư một
cách hiệu quả, đem lại sự phát triển kinh tế, văn hóa và ổn định xã hội cho
Bình Dương.
Thực tế phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
trong suốt quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa vừa qua cho thấy lực lượng
lao động nhập cư từ các tỉnh thành khác đến với Bình Dương như là món quà tặng
vô cùng to lớn của cả nước đối với sự phát triển của tỉnh. Bên cạnh đó, lực
lượng lao động nhập cư này cũng đem lại cho tỉnh những khó khăn không nhỏ trong
phát triển an sinh, xã hội. Lực lượng lao động lành nghề và lao động có trình
độ cao ở Bình Dương còn rất thiếu. Bài học từ chính sách phát triển thị trường
sức lao động ở Singapore
cho thấy Bình Dương có thể thực hiện những bước đi trong chính sách lao động
nhập cư như sau:
-
Bình Dương tạo mọi điều kiện thu hút lao
động ngoại tỉnh đáp ứng nhu cầu lao động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế. Việc thu hút lao động ngoại tỉnh này cần được nắm bắt cụ thể gắn
với sổ theo dõi tình hình lao động của từng lao động nhập cư. Nếu trong khoảng
thời gian 3 đến 5 năm, người lao động nhập cư làm việc ổn định tại một doanh
nghiệp, không có những vi phạm pháp luật, tỉnh nên có những ưu đãi nhất định
trong việc định cư lâu dài cho họ, đặc biệt là hỗ trợ về nhà ở. Những người này
khi đã làm việc lâu năm trong một doanh nghiệp chứng tỏ tay nghề của họ đáp ứng
nhu cầu kỹ thuật của doanh nghiệp, mức độ lành nghề đã tăng, năng suất lao động
tăng lên, tính kỷ luật, ý thức tuân thủ pháp luật của họ thể hiện là bền vững;
-
Để làm tốt công tác này tỉnh cần xây dựng
đội ngũ quản lý lao động nhập cư có đủ khả năng nắm bắt cụ thể tình hình lao
động nhập cư để thông báo cho lãnh đạo tỉnh có những quyết định hỗ trợ kịp thời
nhằm khuyến khích người lao động nhập cư có chất lượng lao động tốt định cư lâu
dài tại Bình Dương;
-
Trong việc thu hút lao động có trình độ cao
vào khu vực công cần có chính sách đãi ngộ thường xuyên đối với người lao động
không phân biệt xuất xứ, người cũ người mới làm việc. Bài học kinh nghiệm từ Singapore cho
thấy một xã hội ổn định về chính trị, đa dạng văn hóa kết hợp với chính sách
tiền lương cao đã giúp họ thu hút được nhân tài từ khắp nơi đến định cư, làm
việc và cống hiến cho xã hội. Bình Dương đã và đang có môi trường ổn định, phát
triển nhưng chính sách tiền lương hiện tại còn nằm trong tình hình chung của cả
nước – không hấp dẫn được người lao động có trình độ cao đến với Tỉnh, càng khó
hấp dẫn họ tham gia vào khu vực công của tỉnh. Bởi vậy, bên cạnh những qui định
chung của Nhà nước, Bình Dương nên có chính sách đãi ngộ riêng về thu nhập của
tỉnh nhằm đạt mục đích lao động có trình độ cao đến với tỉnh;
-
Việc thu hút lực lượng lao động có tay nghề
và trình độ cao còn phụ thuộc vào cơ cấu ngành nghề mà tỉnh thu hút đầu tư. Vì
vậy, việc hoạch định chiến lược đầu tư nên theo hướng khuyến khích những ngành,
nghề đòi hỏi lao động có tay nghề và trình độ cao. Khi nhiều người lao động có
trình độ đến với Bình Dương, hệ quả tích cực kéo theo chính là đời sống văn
hóa, an sinh xã hội của Bình Dương sẽ tiến triển theo hướng tích cực, lôi kéo
đời sống văn hóa của dân cư địa phương phát triển theo.
v Đối với chính sách đào tạo:
Bài học từ Singapore cho thấy đào tạo nghề
(vocational training), đặc biệt là đào tạo tại chỗ (on the job training) được
phát triển mạnh mẽ gắn chặt với những chiến lược phát triển của các nhà lãnh
đạo. Bên cạnh đó, nguồn vốn đào tạo của họ ban đầu được tập trung cho việc
gửi đi đào tạo ở các nước tiên tiến một
lực lượng giáo viên trẻ, có năng lực được tuyển chọn kỹ lưỡng và có cam kết
chặt chẽ về vấn đề việc làm sau khi tốt nghiệp. Chính những người được đầu tư
đào tạo bài bản ấy đã trở thành những máy cái để sản sinh ra nền giáo dục tiên
tiến ở Singapore.
Đối với
Bình Dương, xuất phát từ thực trạng của tỉnh và tình hình chung của cả nước, để
có được lực lượng lao động được giáo dục và đào tạo bài bản đáp ứng được nhu
cầu của các doanh nghiệp, của xã hội thì chúng ta cần phải làm rất nhiều việc
trên phạm vi cả nước. Nhưng theo chúng tôi, trong giai đoạn hiện nay, tỉnh nên
tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
Trên cơ sở chiến lược phát triển của tỉnh,
tăng cường công tác dự báo phát triển nguồn nhân lực: tỉnh cần đưa ra dự báo
trong từng giai đoạn cần bao nhiêu người, yêu cầu trình độ, tay nghề và ngành
nghề phù hợp. Công tác dự báo cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban
ngành trong tỉnh như: sở kế hoạch và đầu tư, sở công thương, sở giáo dục và đào
tạo, sở lao động thương binh và xã hội, sở công an, ban quân sự… Trong đó sở
Lao động Thương binh và xã hội có vai trò thu thập thông tin và lên kế hoạch
đáp ứng nhu cầu lao động trên địa bàn tỉnh. Sở Lao động Thương binh Xã hội nên
thiết lập và thắt chặt mối quan hệ với các trường đại học, cao đẳng trong cả
nước để một mặt trực tiếp quảng bá những ưu thế trong phát triển của tỉnh,
những nhu cầu về lao động của tỉnh, những đãi ngộ của tỉnh đối với người tài,
mặt khác tìm kiếm và lôi kéo những sinh viên, học viên giỏi, khá về làm việc
cho tỉnh;
Tỉnh tạo điều kiện phát triển các trường
nghề, phát triển hệ thống đào tạo tại chỗ một cách khoa học, khuyến khích mở
các cơ sở đào tạo của tư nhân và nước ngoài để đảm bảo cạnh tranh trong chất
lượng đào tạo;
Tỉnh nên thực hiện tài trợ trực tiếp cho
một số người học tài năng trên cơ sở hợp đồng lao động trong tương lai. Cần xem
xét lại chính sách đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong bộ máy hành chính công hiện
nay. Tỉnh nên tập trung nguồn lực cho đào tạo và đào tạo lại lực lượng giáo
viên và các nhà quản lý giáo dục, bởi chính lực lượng này là yếu tố trực tiếp
tác động tới chất lượng của lực lượng lao động tương lai. Đối với người đang
tại chức trong khu vực công nên chú trọng bồi dưỡng ngắn hạn, tu bổ nâng cao
tay nghề, nâng cao nghiệp vụ để họ làm việc hiệu quả hơn. Đồng thời, siết chặt
chất lượng tuyển dụng đầu vào và đào tạo có chọn lọc các cán bộ, công chức đáp
ứng đủ các tiêu chuẩn đào tạo, nâng cao. Nói cách khác, không phải chúng ta từ
bỏ việc đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ đang tại chức mà chỉ đào tạo tinh hoa, thật
cần thiết với số lượng hạn chế nhằm tập trung nguồn lực cho phát triển nguồn nhân
lực tương lai;
Tại các trường đại học, cao đẳng trên địa
bàn Tỉnh, nên tập trung phát triển đào tạo một số ngành thuộc chiến lược phát
triển của tỉnh. Trước hết, tỉnh nên đầu
tư đào tạo đội ngũ giáo viên đại học, cao đẳng chất lượng cao, có hợp đồng lao
động chặt chẽ với họ để tạo nền tảng căn bản cho sự phát triển giáo dục đào tạo
của Tỉnh trong tương lai. Những hợp đồng đào tạo này cam kết rõ điều kiện mà
tỉnh cung cấp cho các giáo viên đi học, sau khi học xong họ sẽ phục vụ cho tỉnh
ít nhất 5 năm, những trách nhiệm và vị trí công việc họ sẽ làm sau khi đi học
về… Khi hợp đồng đã rõ ràng, người học sẽ xác định chính xác họ cần chuyên tâm
học hỏi, nghiên cứu những gì để khi về tỉnh họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ,
được giao;
Bên cạnh
đó, Tỉnh nên phát triển hệ thống đánh giá phi chính phủ đối với các cơ sở giáo
dục, đào tạo qua đó thực hiện bình chọn xếp hạng các cơ sở giáo dục trong Tỉnh.
Để có một thị trường sức lao động phát
triển trên địa bàn tỉnh Bình Dương, ngoài hai nhóm chính sách nêu trên, hệ
thống chính sách hỗ trợ khác cũng cần phát triển phù hợp. Nhưng để các chính
sách có thể thực thi hiệu quả thì chính
sách tiền lương hợp lý khuyến khích mọi người làm việc và một bộ máy hành chính
công trong sạch là 2 yếu tố then chốt, quyết định mức độ thành công của tỉnh./.
1.
Chew Soon – Beng
và Rosalind Chew “ Immigration and foreign labour in Singapore” ASEAN Economic Bulletin,
N0 2, November 1995.
|